Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG GIAI CẤP NÔNG DÂN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ (1996-2001) 1. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM 1. Đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam Việc tìm hiểu đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đúng nội dung, hình thức và phương pháp vận động nông dân, góp phần nâng cao hiệu quả công tác vận động nông dân trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, việc xác định một giai cấp, một tầng lớp xã hội phải căn cứ vào địa vị kinh tế - xã hội, điều kiện lao động, tính chất sở hữu về tư liệu sản xuất, môi trường sống và các quan hệ khác.Mác cho rằng: “Tiểu nông là một khối quần chúng đông đảo mà tất cả các thành viên đều sống trong một hoàn cảnh như nhau, nhưng lại không nằm trong những mối quan hệ nhiều mặt đối nhau" [51, tr.Lênin, giai cấp nông dân "là giai cấp của những người sở hữu nhỏ".
Ở nước ta, trong các văn bản đầu tiên của Đảng đã dùng từ “dân cày” để chỉ giai cấp nông dân. Có nhiều quan niệm khác nhau về nông dân. Theo Đại từ điển tiếng Việt, nông dân là “Người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [67, tr.917], còn theo từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học thì “Nông dân - một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình. Gần đây, có một số công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm nông dân một cách phù hợp hơn như: “nông dân được coi là những người nuôi mình với tư cách là người lao động, trồng trọt trên đất đai và sống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trong những làng mạc nhỏ bé”, hoặc “nông dân ở nước ta hiện nay là những người sống lâu đời ở thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) làm nguồn sống chính dưới hình thức hộ gia đình” [6, tr.
Từ một số định nghĩa trên cho thấy rằng, nói đến giai cấp nông dân là nói đến một bộ phận dân cư lao động chiếm gần 80% dân số và gần 75% lao động trong xã hội, là lực lượng lớn gắn liền với sản xuất nông nghiệp, có cuộc sống và thu nhập từ lao động nông nghiệp. Tuy nhiên, do quá trình phát triển của các lĩnh vực kinh tế, sự đa dạng của các ngành nghề sản xuất dẫn tới sự xáo trộn dân cư mà trong thực tế ở Việt Nam hiện nay có nhiều người tham gia lao động sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp, cùng sống ở nông thôn nhưng họ không phải là nông dân. Ví dụ như: Giáo viên, bác sỹ, cán bộ công chức về hưu. hoặc do chính sách phát triển kinh tế trang trại, hiện nay có một số cư dân đô thị, cán bộ công chức Nhà nước mua đất lập các trang trại, tổ chức sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp, nhưng họ cũng không phải là nông dân thuần tuý.
Căn cứ vào cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội, truyền thống, các điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường sống và lao động. có thể khái quát một số đặc điểm giai cấp nông dân Việt Nam như sau: Một là, nông dân Việt Nam là những người sản xuất nhỏ, cần cù, chịu khó trong lao động, sống mộc mạc, giản dị, thật thà chất phát, có tư duy trực quan cụ thể. Nông dân Việt Nam gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, tự cung, tự cấp, phụ thuộc vào thiên nhiên. Do ruộng đất chật hẹp cộng với thời tiết khắc nghiệt, người nông dân phải vất vả một nắng hai sương, quanh năm lam lũ “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để kiếm bát cơm manh áo đủ sống nuôi thân.
Điều kiện lao động và cuộc sống cực nhọc đã hình thành ở người nông dân tính cần cù, chịu khó, chịu khổ, tiết kiệm. Nhu cầu, ước mơ của họ giản dị. Họ luôn mong có cuộc sống yên bình, đủ ăn, đủ mặc, con cái được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 học hành, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Khi một lực lượng xã hội nào đó đáp ứng được nhu cầu của họ, mang lại cuộc sống ấm no cho họ, họ sẵn sàng đi theo.
Do gắn liền vời nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lúa nước, phụ thuộc vào thiên nhiên và tự cung, tự cấp mà tư duy của nông dân Việt Nam mang nặng lối tư duy trực quan, cụ thể. Trong hoạt động thường có tính tự do, tuỳ tiện, thiếu năng động, có tư tưởng ỷ lại, trông chờ và bảo thủ, chỉ lo vun vén cá nhân. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, người nông dân, đặc biệt là nông dân miền Bắc có nhiều bỡ ngỡ, kiến thức và tư duy kinh tế thị trường còn hạn chế. Họ quen sống với kinh nghiệm, thói quen đã tồn tại lâu đời, ngại thay đổi cung cách làm ăn, thiếu mạnh dạn, năng động trong sản xuất và kinh doanh.
Tuy nhiên, do điều kiện sống, lao động, địa vị kinh tế, chính trị, xã hội, giai cấp nông dân Việt Nam không có hệ tư tưởng riêng, hành động tự phát. Chính vì vậy, họ không có khả năng tự giải phóng khỏi áp bức, bất công, khỏi đói nghèo, lạc hậu và xây dựng một chế độ xã hội mới. Khi phân tích đặc điểm giai cấp nông dân nói chung, V. Lênin rất nhấn mạnh đến tính hai mặt của họ.
Lênin, một mặt, họ là người lao động. Mặt khác, họ là người đầu cơ. Là người lao động, nông dân là người bạn trung thành của giai cấp công nhân, giai cấp công nhân cần và có thể phải liên minh với giai cấp nông dân. Tuy nhiên, khi nghiên cứu nông dân Việt Nam trong lịch sử có thể thấy rằng, đại bộ phận nông dân Việt Nam là bần cố nông, ruộng đất chật hẹp, manh mún, quanh năm làm không đủ ăn, họ là lực lượng đi làm thuê, bị thực dân, đế quốc, phong kiến và cả giai cấp tư sản dân tộc bóc lột nặng nề.
Vì vậy, nông dân Việt Nam, kể cả tầng lớp trung nông rất ít có khả năng đầu cơ. Từ khi có Đảng, giai cấp nông dân luôn luôn đi theo Đảng, gắn bó, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Giai cấp nông dân Việt Nam, tuy là giai cấp tư hữu nhỏ nhưng thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Việt Nam thì khả năng cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam là rất lớn. Chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, các phong trào nông dân mới mang tính chất chính trị và có phương hướng chính trị rõ rệt.
Người nông dân mới ý thức được vai trò của mình đối với đất nước. Đảng và giai cấp công nhân cần khơi dậy khả năng đó, nắm lấy quyền lãnh đạo nông dân, nâng cao ý thức chính trị cho họ, liên kết chặt chẽ phong trào cách mạng của giai cấp nông dân với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và các tầng lớp khác trong xã hội. Đồng thời, chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nông dân Việt Nam mới được giải phóng khỏi đói nghèo, lạc hậu. Hai là, nông dân Việt Nam có tinh thần cộng đồng cao, sống trọng tình, trọng nghĩa, trọng đạo đức.
Việt Nam là quốc gia nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm mưa lũ, hạn hán, thời tiết khắc nghiệt. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, người nông dân phải liên kết chặt chẽ với nhau để đắp đê, chống hạn, chống chọi lại với thiên nhiên. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam là quốc gia liên tục có các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, từ phong kiến phương Bắc đến thực dân, đế quốc phương Tây. Dân tộc Việt Nam nói chung, nông dân Việt Nam nói riêng luôn luôn phải đoàn kết, chung sức, chung lòng để đấu tranh chống lại ngoại xâm, bảo vệ giang sơn, Tổ quốc, bảo vệ xóm làng, đồng thời cũng là bảo vệ cuộc sống của chính mình.
Trải qua bao cuộc chiến tranh, nông dân là những người phải chịu nhiều mất mát, đau thương. Vì vậy, họ luôn đề cao những giá trị tinh thần, tôn trọng tình cảm, các giá trị đạo đức. Trong quan hệ ứng xử, người nông dân luôn luôn lấy tình cảm, đạo đức làm chuẩn mực để đánh giá, phán xét hành vi của người khác. Tình cảm gia đình, dòng tộc, xóm làng là cơ sở tạo nên tính cộng đồng bền chặt và lối sống trọng tình, trọng nghĩa ở người nông dân Việt Nam.
Tính cộng đồng đã liên kết người nông dân thành một khối thống nhất “tối lửa tắt đèn có nhau”, “lá lành đùm lá rách”, ''một con ngựa đau cả tàu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 không ăn cỏ''. Nhờ có tính cộng đồng cao mà mỗi người, mỗi gia đình nông dân và làng xã Việt Nam đã vượt qua những khó khăn thử thách là nguồn sức mạnh để giai cấp nông dân tồn tại, đứng vững trước bao thăng trầm, biến cố trong lịch sử dân tộc và phát triển. Tuy nhiên, tính cộng động của nông dân Việt Nam bị giới hạn trong khuân khổ làng xã có tính chất nhỏ hẹp, cục bộ và khép kín, nó cũng chứa đựng trong đó những nhân tố tiêu cực. Sống trong xã hội cộng đồng làng xã khép kín, người nông dân ít có điều kiện tiếp xúc với thế giới văn minh ngoài làng.
Tư duy của họ thường bảo thủ và kinh nghiệm chủ nghĩa. Một sự thay đổi khác lạ khó dung nạp và hoà nhập với cộng đồng dân cư trong làng. Tính cộng đồng cũng dễ làm nảy sinh lối sống nặng tình, nhẹ lý, trọng lệ hơn trọng luật, tư tưởng cào bằng, bình quân, bè phái cục bộ, làm hạn chế khả năng chủ động, sáng tạo và ý chí cá nhân của người nông dân. Sống trong cộng đồng làng, vai trò cá nhân dễ bị lu mờ, bị hoà lẫn với cộng đồng, họ ít nhạy bén và thiếu linh hoạt.
Đồng thời, nó cũng làm nảy sinh tư tưởng đố kỵ lẫn nhau, không muốn người khác hơn mình. Do tác động của cơ chế mới, cơ chế thị trường, của cách mạng khoa học kỹ thuật và nhiều nhân tố khác, mặt tiêu cực của tính cộng đồng đã giảm bớt nhưng dấu ấn của nó vẫn còn in đậm trong đời sống xã hội nông thôn hiện nay.