phần mở đầu và kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 04 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đăng ký kinh doanh và pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Việt Nam Chƣơng 2: Các phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM 1. Một số nội dung cơ bản về đăng ký kinh doanh 1. Nền kinh tế thị trường và quyền tự do kinh doanh Nền kinh tế đƣợc coi nhƣ một hệ thống các quan hệ kinh tế.
Khi các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trƣờng (ngƣời bán cần tiền, ngƣời mua cần bán và họ phải gặp nhau trên thị trƣờng) thì nền kinh tế đó đƣợc gọi là nền kinh tế thị trƣờng. Thực chất, kinh tế thị trƣờng là cách tổ chức nền kinh tế - xã hội, trong đó các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua quan hệ mua, bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trƣờng và thái độ cƣ xử của từng thành viên chủ thể kinh tế là định hƣớng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trƣờng. Ngoài ra kinh tế thị trƣờng còn đƣợc hiểu là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao. Khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều đƣợc tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất nhƣ: đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tƣợng mua - bán và hàng hoá.
Dƣới góc độ kinh tế, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế. Kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải, vật chất xã hội nhằm thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu. Theo quy định tại điều 4 Luật doanh nghiệp, kinh doanh là việc các chủ thể thực hiện một cách thƣờng xuyên, liên tục, một số hoặc toàn bộ các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đế tiêu thụ sản phẩm trên thị trƣờng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Với khái niệm trên, kinh doanh đã đƣợc hiểu một các đầy đủ, đúng đắn bao gồm tất cả hoạt động nhƣ: Đầu tƣ, sản xuất, trao đổi, dịch vụ nếu các hoạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 động này nhằm mục đích sinh lợi.
Kinh doanh không nhất thiết phải bao gồm tất cả các công đoạn để đạt tới kết quả cuối cùng mà chỉ cần một trong các hoạt động nói trên là đủ, miễn sao hoạt động đó có mục đích sinh lợi. Nhƣ vậy khái niệm kinh doanh có nội dung rất rộng và ở mức độ khái quát có thể đƣa ra những dấu hiệu đặc trƣng sau: Kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp. Điều đó có nghĩa là trong xã hội đã có những ngƣời, nhóm ngƣời, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, họ sống bằng nghề kinh doanh. Kinh doanh mang tính thƣờng xuyên, liên tục, ổn định và lâu dài.
Kinh doanh là hành vi diễn ra trên thị trƣờng. Cụ thể, hoạt động kinh doanh phản ánh mối quan hệ giƣa các nhà kinh doanh với nhau, với xã hội nói chung thông qua các quan hệ mua bán, trao đổi,… Những quan hệ này tự nó phản ánh quan hệ hàng hóa – tiền tệ. Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận, đây là dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt hành vi kinh doanh với các hoạt động khác. Khi xác định mục đích sinh lời trong hành vi kinh doanh cần hiểu ý định thu lợi nhuận của hành vi thu lợi nhuận của hành vi mới là tiêu chí quyết định, còn việc có đạt đƣợc lợi nhuận hay không cũng nhƣ việc sử dụng lợi nhuận nhƣ thế nào không phải là dấu hiệu quyết định.
Quyền tự do kinh doanh tồn tại nhƣ một nhu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế, xã hội; là một phần hợp thành và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các quyền tự do của con ngƣời. Giá trị to lớn của quyền tự do kinh doanh thể hiện ở chỗ nó là tự do trong hoạt động kinh tế, một hoạt động luôn giữ vị trí trung tâm trong đời sống xã hội và quyết định các hoạt động khác. Phải khẳng định rằng: Quyền tự do kinh doanh là một phạm trù pháp lý. Dƣới góc độ này, quyền tự do kinh doanh đƣợc xem xét trên 2 khía cạnh căn bản sau: Dƣới góc độ quyền chủ thể: Quyền tự do kinh doanh đƣợc hiểu là khả năng hành động một cách có ý thức của các chủ thể trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Theo nghĩa này, quyền tự do kinh doanh bao hàm khả năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 mà thể nhân hay pháp nhân có thể xử sự nhƣ: tự do đầu tƣ vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ kinh doanh, tự do cạnh tranh… Những khả năng xử sự này là thuộc tính tự nhiên của các chủ thể chứ không phải do nhà nƣớc ban tặng. Song những khả năng xử sự đó muốn trở thành hiện thực thì phải đƣợc nhà nƣớc thể chế hóa bằng pháp luật và khi đó nó mới trở thành “thực quyền. Dƣới góc độ là một chế định pháp luật: quyền tự do kinh doanh là một chế định pháp luật bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật và những bảo đảm pháp lý do nhà nƣớc ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình. Tóm lại, với các tiếp cận trên, quyền tự do kinh doanh – một mặt bao gồm những quyền mà chủ thể kinh doanh đƣợc hƣởng – mặt khác là trách nhiệm của nhà nƣớc khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo vệ những quyền năng đó.
Khái niệm, vai trò của đăng ký kinh doanh 1. Khái niệm Đăng ký kinh doanh là một thủ tục hành chính nhằm hợp pháp hóa sự ra đời của doanh nghiệp thông qua đó nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ cho doanh nghiệp các quyền và lợi ích hợp pháp trong quan hệ kinh doanh và ghi nhận về mặt pháp lý sự tồn tại độc lập của một chủ thể kinh doanh. Nói một cách khác, đăng ký kinh doanh có thể đƣợc hiểu là một hoạt động pháp lý bao gồm hành vi của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đăng ký kinh doanh. Theo đó, chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, còn các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền tiến hành ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh đồng thời cấp cho chủ thể đăng ký kinh doanh giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, đƣợc nhà nƣớc công nhận và bảo hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Trong mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế thì thuật ngữ đăng ký kinh doanh sẽ đƣợc hiểu và thể hiện theo các cách khác nhau. Vai trò của đăng ký kinh doanh Đăng ký kinh doanh đƣợc coi là hoạt động khởi đầu đối với bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Bởi thông qua hoạt động này, tƣ cách của doanh nghiệp hay hộ kinh doanh mới đƣợc thừa nhận và mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Có nhƣ vậy, doanh nghiệp hay cá nhân mới có thể yên tâm hoạt động kinh tế vì đã đƣợc pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nhƣ vậy có thể thấy ĐKKD đóng vai trò rất lớn không chỉ đối với các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế mà còn đối với cả các cơ quan nhà nƣớc. Đối với Nhà nước Đăng ký kinh doanh đƣợc xem là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả của Nhà nƣớc, bởi thông qua hoạt động này, Nhà nƣớc có thể quản lý các thành phần kinh tế tham gia vào nền kinh tế thị trƣờng cũng nhƣ theo dõi, kiểm soát, giám sát hoạt động của các chủ thể kinh tế. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động ĐKKD, cơ quan nhà nƣớc có thể nắm bắt đƣợc các yếu tố mới trong kinh doanh, để từ đó có những sự thay đổi cho phù hợp với thị trƣờng.
Mặt khác, ĐKKD chính là thể hiện sự bảo hộ của Nhà nƣớc bằng phát luật đối với các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh nói chung và các chủ doanh nghiệp nói riêng. Đối với Doanh nghiệp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chính là kết quả cao nhất của hoạt động ĐKKD bởi có giấy chứng nhận này, tức là doanh nghiệp đã đƣợc thừa nhận về mặt pháp lý, đƣợc tiến hành kinh doanh theo những quy định đã đăng ký về ngành, nghề, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mình dƣới sự bảo hộ của pháp luật. Đối với kinh tế - xã hội ĐKKD còn là một phƣơng tiện để thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, thì cơ quan đăng ký kinh doanh đƣợc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 thành lập để thực hiện việc đăng ký cho DN khởi sự kinh doanh; cập nhật và thông tin cho xã hội về tình trạng pháp lý của Doanh nghiệp.
Nhƣ vậy, cơ quan đăng ký kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc phát triển khu vực DN tƣ nhân, nhất là trong vai trò cung cấp những thông tin kinh doanh có giá trị pháp lý cho khu vực tƣ nhân và về khu vực tƣ nhân, cũng nhƣ nắm bắt thông tin đầy đủ, cập nhật về hoạt động của khu vực doanh nghiệp tƣ nhân. Tổ chức hệ thống đăng ký kinh doanh 1.