CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, DÂN CƯ, TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CHƯ PRÔNG TRƯỚC NĂM 1996 1. Khái quát đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cư và kinh tế - xã hội 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên Tên huyện Chư Prông được đặt theo tên ngọn núi cao nhất vùng - núi Chư Prông. Theo tiếng Gia Rai có nghĩa: Chư là ngọn núi, Prông là lớn; Chư Prông là ngọn núi lớn.
Chư Prông là huyện miền núi, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Gia Lai, phía Bắc giáp thành phố Pleiku và huyện Ia Grai; phía Đông, Đông Nam giáp huyện Chư Sê; phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk; phía Tây Nam giáp huyện Đức Cơ và Campu chia. Có diện tích tự nhiên 1678, 5 km2, phần lớn địa hình đồi núi thấp xen lẫn vùng đồng bằng thoải dần theo hướng Tây sang Nam, hệ thống suối phong phú phân bố khá đều có tiềm năng trong việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi vừa và nhỏ như suối Ia Đrăng, Ia Lốp, Ia Mơr, Ia Puch [2, tr. Với lợi thế diện tích rộng lớn, tính chất thổ nhưỡng đất đỏ bazan phù hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày: cao su, cà phê, hồ tiêu, chè, điều… theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung. Có thể nói đây là những ưu đãi mà thiên nhiên đã ban tặng, vì vậy địa phương cần tận dụng tốt lợi thế này để phát triển kinh tế nhất là kinh tế nông nghiệp.
Tài nguyên khoáng sản của huyện chủ yếu là khoáng hóa bô xít tập trung ở khu vực Thanh Giáo, Bàu Cạn, Pleime. 17 Vùng đất Chư Prông gắn liền với địa danh thung lũng Ia Đrăng - Pleime, cách trung tâm thị trấn 15 - 25 km. Năm 2009, địa danh Pleime được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh [2, tr. Đặc điểm dân cư, dân tộc Dân số toàn huyện Chư Prông tính đến tháng 12 năm 1995 là 49.519 người, với 9.904 hộ, trong đó hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm gần 50% (chủ yếu hộ người Gia Rai), hơn 80% dân số sống ở nông thôn, thu nhập hàng năm dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.
Đơn vị hành chính của huyện gồm 14 xã và 1 thị trấn, 118 thôn làng, tổ dân phố. Trong đó có 5 xã và 45 thôn, làng thuộc diện đặc biệt khó khăn [17]. Trong giai đoạn (1991 - 1995), kinh tế của huyện có bước phát triển mạnh mẽ; tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 14%; cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện; văn hóa xã hội chuyển biến tích cực; an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội ổn định, vững mạnh [17]. Tuy nhiên, đời sống của người dân, đặc biệt là các hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS tại các xã vùng 3 thuộc các làng vùng sâu, vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn và thiếu thốn về mọi mặt.
Huyện nằm trên địa bàn biên giới, có diện tích rộng, giao thông chưa thật sự đảm bảo, nhất là tuyến giao thông thôn, làng gây khó khăn trong việc đi lại, đặc biệt về mùa mưa. Với nhiều thành phần dân tộc sinh sống, lại là tuyến biên giới, tình hình dân di cư diễn ra khá phổ biến và thường là các hộ nghèo đồng bào DTTS nên gây không ít khó khăn trong công tác quản lý hành chính của địa phương trong những năm qua. Song với tiềm năng, lợi thế lớn về sản xuất nông nghiệp nếu được khai thác, sử dụng hợp lý kinh tế huyện sẽ có những thay đổi nhanh chóng, đời 18 sống tinh thần và vật chất ngày càng được nâng lên. Ngoài ra, nhiều dân tộc cùng đến làm ăn và sinh sống trên địa bàn, cộng với nền văn hóa bản địa đặc sắc của đồng bào dân tộc Gia Rai sẽ tạo nên bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng của địa phương.
Những lợi thế, tiềm năng phát triển nông nghiệp Đất đai vùng Chư Prông chủ yếu là loại đất feralit nâu đỏ, nâu vàng trên đá bazan và đen xám. Thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét ít, chứa hàm lượng limon và cát mịn cao, mùn nhiều ở tầng mặt, giàu chất lân và kali phù hợp với các loại cây lương thực và cây công nghiệp ngắn và dài ngày như đậu đỗ, mè, lạc, cao cu, cà phê…, cây ăn quả khác như: ngô, khoai, sắn, bơ, sầu riêng, chuối, mít… Cộng với khí hậu nhiệt đới ẩm cao nguyên, với hai mùa mưa, nắng rõ rệt và nhiệt độ trung bình trong năm là 21,6 độ C, độ ẩm khá cao, là những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây cà phê và cao su, là hai loại cây công nghiệp chủ lực trong nền kinh tế nông nghiệp của huyện [2, tr. Điều kiện tự nhiên thuận lợi từ đất đai, khí hậu kết hợp với nguồn nước từ các sông, suối, các đập hồ thủy lợi vừa và nhỏ cùng với nguồn nước ngầm khá phong phú, đã tạo ra những lợi thế cho kinh tế nông nghiệp của huyện phát triển. Thêm vào đó, thực hiện chủ trương di dân phát triển kinh tế mới của Nhà nước, đã có một bộ phận khá đông đảo người dân từ các vùng, miền khác nhau trong cả nước tới địa phương lập nghiệp, họ sống xen kẽ với các cư dân bản địa là người đồng bào DTTS.
Vì vậy, phương thức canh tác, kỹ thuật sản xuất cùng với lối sống sinh hoạt của người Kinh đã có ảnh hưởng khá lớn tới đồng bào DTTS bản địa. Họ đã chuyển sang sống định canh định cư (ĐCĐC), canh tác trên diện tích đất cố định, nhận thức cũng dần được nâng lên. Cùng với đó là sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời, sâu sát của các cấp ngành lãnh đạo địa phương. Hàng năm nhân dân trong huyện đều được cán bộ khuyến nông phổ biến và hướng dẫn ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhờ đó mà diện tích cây trồng 20 được mở rộng hơn, sản lượng, chất lượng cũng cao hơn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân huyện nhà ngày càng được cải thiện, nâng lên từng ngày.
Như vậy, hai yếu tố nhân hòa - địa lợi đã có và ngày càng được củng cố nên chắc chắn kinh tế nông nghiệp của địa phương sẽ ngày càng phát triển. Dù quá trình CNH - HĐH đang diễn ra mạnh mẽ và ngành công nghiệp, dịch vụ đang ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế nhưng trên cơ sở những tiềm năng, thế mạnh sẵn có, phát triển kinh tế nông nghiệp (chủ yếu phát triển những vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm, có giá trị xuất khẩu cao) sẽ luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng, chủ đạo trong nền kinh tế của huyện Chư Prông. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Chư Prông giai đoạn 1991 - 1995 Trong Báo cáo chính trị trình tại Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ huyện năm 1995 cho biết: - Về kinh tế: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, nền kinh tế bước đầu phát triển và có tăng trưởng. Kinh tế hàng hóa đã và đang được hình thành và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp tăng bình quân 6,7%/năm, từ 34,5 tỷ đồng năm 1991 lên 44,6 tỷ đồng năm 1995. Việc ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất bước đầu được huyện quan tâm chỉ đạo, đã tạo điều kiện tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Năng suất cây trồng tăng nhanh và khá ổn định, tổng sản lượng lương thực năm 1991 là 12.120 tấn, tăng lên 13. Những năm qua (1991 - 1995), huyện chú trọng quan tâm chỉ đạo phát triển cây công nghiệp dài ngày, coi cao su, cà phê là hai cây mũi nhọn, cây 21 chè vẫn được duy trì, phát triển cây hồ tiêu, và cây điều phát triển ở phía Nam của huyện.
Diện tích cao su năm 1991 là 2.084 ha, tăng gấp 2 lần so với năm 1991. Diện tích cây cà phê phát triển nhanh năm 1995 tăng gấp 12 lần năm 1991, với 1. Phong trào trồng cao su nhân dân đang được nhân ra diện rộng, với 845 ha cao su nhân dân ở Thăng Hưng, Ia Tôr, Ia Me, thị trấn. Kỹ thuật trồng tỉa, chăm sóc cây công nghiệp dài ngày được chú trọng đúng mức.
Ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân năm 13,9%. Việc lai tạo hóa đàn gia súc đã được triển khai bước đầu có hiệu quả kết hợp với việc chăn dắt nhốt gia súc được vận động thực hiện. Trên lĩnh vực lâm nghiệp đã đạt được kết quả bước đầu trong việc thực hiện chủ trương phát triển lâm nghiệp xã hội. Trên cơ sở các dự án ĐCĐC, dự án 327 đã giao 8.900 ha rừng cho nhân dân quản lý, công tác quản lý rừng và thực hiện đóng cửa rừng được thực hiện khá hiệu quả.
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (TTCN) được chú trọng trên cơ sở 4 doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn, chủ yếu là chế biến nông sản và thủy điện. Các dịch vụ xay xát, đan lát, sửa chữa nhỏ được mở rộng tới từng cụm dân cư. Tỷ trọng ngành công nghiệp, TTCN tăng từ 5,9% năm 1991 lên 7,8% năm 1995. Về văn hóa - xã hội: hoạt động văn hóa - xã hội có sự chuyển biến tích cực theo phương châm xã hội hóa.
Ngành giáo dục đào tạo tiếp tục được duy trì và phát triển. đã thực hiện xóa làng trắng về giáo dục. Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi ra lớp năm 22 1991 -1995 đạt 72%. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được quan tâm đầu tư.
Các hoạt động văn hóa - thông tin - thể thao 5 năm qua (1991 - 1995) từng bước được củng cố và mở rộng. Đài tiếp sóng truyền hình, nhà văn hóa được xây dựng và phát huy tác dụng, thành lập hai đội chiếu bóng. Các hoạt động văn hóa - văn nghệ - thể thao được khơi dậy và củng cố từ huyện đến xã. Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân từng bước được quan tâm, công tác vệ sinh phòng dịch được duy trì.
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) được Đảng bộ quan tâm chỉ đạo và bước đầu đạt kết quả khả quan. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 31,8% năm 1991 xuống còn 29% năm 1995. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất và đời sống bắt đầu được thực hiện ở một số cơ sở.