Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM 1. Quá trình hình thành và phát triển của các quy định về dẫn độ tội phạm Do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, hoạt động của các loại tội phạm hiện nay không còn mang tính chất “tội phạm truyền thống” mà đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia với xu hướng gia tăng và có những diễn biến phức tạp. Sự phát triển của tội phạm có tính chất quốc tế đã đặt cộng đồng quốc tế trước một vấn đề có tính toàn cầu đó là phải hợp tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này và tiến tới loại trừ hoàn toàn chúng ra khỏi đời sống quốc tế. Trong các nội dung hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng chống tội phạm, dẫn độ được coi là một trong những hoạt động tương trợ tư pháp quan trọng và khá phổ biến về cả phương diện lý luận và thực tiễn.
Cùng với sự ra đời của ngành Luật hình sự quốc tế trong hệ thống pháp luật quốc tế, các quy định về dẫn độ tội phạm cũng đã có những bước phát triển quan trọng thông qua sự phát triển của các điều ước quốc tế song phương, đa phương, không ngừng thay đổi trong các quy định về đối tượng, nghĩa vụ dẫn độ và đặc biệt là các quy định về thủ tục của việc yêu cầu và đáp ứng yêu cầu dẫn độ tội phạm, là cơ sở thực hiện hoạt động hợp tác này giữa các quốc gia với nhau. Dẫn độ tội phạm là một trong những chế định cổ điển của luật quốc tế trong hợp tác đấu tranh chống tội phạm. Những quy định đầu tiên về dẫn độ tội phạm trong lịch sử nhân loại có thể được xác nhận là các quy định trong Hiệp ước hòa bình được ký kết giữa vua Hattusili III với hoàng đế Ai Cập Reamasesa II vào năm 1296 trước công nguyên. Hiệp ước này bao gồm 18 điều khoản đề cập chủ yếu đến các hoạt động hợp tác duy trì hoà bình giữa hai quốc gia, trong đó điều khoản về dẫn độ được ghi nhận trong 10 điều với nội dung: “Nếu một người bỏ trốn từ Hattite đến Reamasesa, vị vua vĩ đại của quốc gia này sẽ giữ người đó và trao trả người này cho Hattusili, vị vua của nước Hattite; Nếu một người quý tộc bỏ trốn từ Hattite do không muốn phục vụ đức vua của đất nước này sang Ai Cập, vua Reamasesa sẽ không cho phép họ cư trú ở Ai Cập mà giao họ cho Hattusili.” [63] 4 Những quy định này được coi là những quy định đầu tiên và sơ khai của hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm giữa các quốc gia thông qua dẫn độ.
Ở thời kỳ này (thời kỳ của chế độ chiếm hữu nô lệ). Cũng phải kể đến sự xuất hiện của điều ước đa phương đầu tiên của cộng đồng quốc tế liên quan đến hoạt động dẫn độ, đó là điều ước trong lĩnh vực tội làm tiền giả, vỡ nợ và giết người năm 1802, Công ước năm 1889 giữa các quốc gia Achentina, Bôlivia, Paragoay, Pêru, Urugoay về luật hình sự quốc tế, với một số điều khoản liên quan đến vấn đề dẫn độ tội phạm. Dẫn độ tội phạm được coi là hoạt động hợp tác được tiến hành chủ yếu giữa các quốc gia. Đây là một trong số những nội dung của hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm, là hình thức pháp lý trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử tư pháp và thuộc ngành Luật hình sự quốc tế.
Nói đến sự phát triển của các quy định về dẫn độ tội phạm thì không thể không nhắc đến một trong những văn bản có ý nghĩa hết sức quan trọng chứa đựng các quy định về dẫn độ, đó là bản dự thảo công ước chung về tư pháp quốc tế của các nước châu Mỹ (ra đời tại Hội nghị quốc tế lần thứ VI được triệu tập năm 1928. Quyển 3 ghi nhận các quy phạm điều chỉnh vấn đề dẫn độ tội phạm. Bên cạnh đó, trong khuôn khổ hợp tác tư pháp của các nước Bắc Âu đã ký kết hiệp định về dẫn độ tội phạm năm 1962…[24] Từ cuối thế kỷ 19, Viện luật quốc tế đã thông qua Nghị quyết Ôcxphot thể hiện việc khuyến khích ký kết các điều ước song phương về dẫn độ tội phạm và bày tỏ quan điểm về khả năng dẫn độ tội phạm không dựa trên cơ sở có điều ước quốc tế hữu quan, về cấm dẫn độ vì các lý do chính trị. Trong sự phát triển của các quy phạm về dẫn độ nói riêng và sự phát triển của Luật Hình sự quốc tế nói chung, không thể không nói đến dấu mốc quan trọng, đó là sự ra đời của Hội quốc liên (tổ chức tiền thân của Liên hợp quốc hiện nay).
Năm 1924, Uỷ ban các chuyên viên về pháp điểm hoá tiến bộ luật quốc tế đã được thành lập, với nhiệm vụ dự thảo và kiến nghị ký kết các điều ước quốc tế phổ cập điều chỉnh các vấn đề hợp tác giữa các quốc gia về dẫn độ tội phạm.[24] Năm 1945, Liên hợp quốc chính thức được thành lập thay thế cho Hội quốc liên, sự ra đời của tổ chức quốc tế đa phương với số lượng lớn các thành viên này cũng ghi nhận sự phát triển của các quy định liên quan đến gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế, trong 5 đó có các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động hợp tác về dẫn độ. Năm 1946, sau khi Toà án quốc tế về xét xử tội phạm chiến tranh (Toà Nurumbe) tiến hành xét xử các tội phạm đầu sỏ phát xít châu Âu , Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết tại kỳ họp thứ nhất (tại Luân Đôn – Anh) nhằm đề nghị áp dụng các biện pháp truy tìm, bắt giữ và dẫn độ các tội phạm chiến tranh về quốc gia nơi tội phạm này thực hiện để tiến hành xét xử theo pháp luật của quốc gia đó. Năm 1974, tại kỳ họp thứ II (tại New York, Hoa Kỳ), Liên hợp quốc đã thống nhất thông qua Nghị quyết về “nỗ lực không mệt mỏi thi hành các nghĩa vụ của các quốc gia trong việc dẫn độ và chuyển giao cho toà án xét xử các tội phạm chiến tranh. Cùng với đó là các điều ước chuyên môn có chứa đựng các điều khoản về dẫn độ tội phạm (Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 1990, Công ước về phòng chống tham nhũng của Liên hợp quốc năm 2003.
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, những quy định của Luật quốc tế về dẫn độ tội phạm ngày càng thể hiện rõ sự hoàn thiện về mặt phạm vi và nội dung điều chỉnh của mình. Từ những quy định sơ khai, với những quy tắc xử sự dưới dạng tập quán, các quy phạm về dẫn độ đã được pháp điển hoá, hoàn thiện quá các điều ước quốc tế song phương và đa phương, góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến đấu tranh và phòng chống tội phạm trên phạm vi toàn cầu. Những quy định này sẽ còn được phát triển hơn nữa nhằm tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho cộng đồng quốc tế đối đầu với tỷ lệ phạm tội đang ngày càng gia tăng cả về số lượng và tính chất nguy hiểm. Khái niệm dẫn độ tội phạm 1.
Định nghĩa dẫn độ tội phạm Trong quá trình phát triển của các quy định về dẫn độ tội phạm, một trong những vấn đề được tất cả các quốc gia quan tâm đó là hiểu thật đúng thế nào là dẫn 6 độ tội phạm? Có rất nhiều quan điểm khác nhau được ghi nhận trong các từ điển, tác phẩm nghiên cứu và cả quan điểm của các quốc gia khi đưa ra khái niệm dẫn độ tội phạm. Việc xem xét các khái niệm này sẽ giúp chúng ta tìm được cách hiểu chính thức về hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm quan trọng này. Theo từ điển Cambridge thì “dẫn độ là việc đưa một người nào đó trở lại quốc gia mà họ bị cáo buộc là đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật quốc gia đó để xét xử.”[58] Định nghĩa về dẫn độ của Cambridge đưa ra chưa thực sự thể hiện rõ ý nghĩa của hoạt động này, theo đó, ta chưa thấy được chủ thể thực hiện hoạt động dẫn độ là ai? Hơn nữa định nghĩa này đã đề cập đến một thuật ngữ “hành vi vi phạm” ở một nghĩa quá rộng bởi nếu nói về hành vi vi phạm pháp luật thì có thể nghĩ tới hành vi vi phạm luật hành chính, luật dân sự. Tuy nhiên, không phải hành vi vi phạm nào đối với pháp luật của một quốc gia cũng khiến cá nhân đó bị đưa ra xét xử trước tòa án (có thể hành vi vi phạm đó chưa hội tụ đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Hơn nữa, ở đây định nghĩa mới chỉ đề cập đến một chủ thể của hoạt động dẫn độ tội phạm đó là quốc gia mà cá nhân đó bị cáo buộc là đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật quốc gia đó, còn chưa thấy đề cập đến chủ thể tiến hành hoạt động dẫn độ (đó là cá nhân, tổ chức hay quốc gia.) Từ điển Oxford đã đưa ra định nghĩa về dẫn độ tội phạm như sau: “Dẫn độ tội phạm là việc dẫn độ một người bị buộc tội hoặc bị kết án đối với một tội phạm.”[63] Định nghĩa trong từ điển của Oxford đã tiếp cận tới đối tượng của hoạt động dẫn độ (người bị buộc tội hoặc bị kết án đối với một tội phạm), điều đó có nghĩa là cá nhân đó bị buộc tội hoặc kết án về hành vi vi phạm theo luật hình sự của quốc gia. Tuy nhiên, nếu chỉ đưa ra khái niệm chung chung như vậy, người đọc sẽ không hình dung ra được hoạt động dẫn độ này sẽ được tiến hành bởi chủ thể nào? Và mục đích của hoạt động dẫn độ cũng không được nêu rõ trong định nghĩa này (dẫn độ để xét xử hay thực hiện bản án). Tổ chức Cảnh sát Quốc tế (INTERPOL) đã đưa ra định nghĩa về dẫn độ tội phạm gần với các quy định và thực tiễn của hoạt động dẫn độ tội phạm, theo đó, 7 dẫn độ tội phạm là việc một quốc gia (quốc gia được yêu cầu) trao trả một cá nhân đang hiện diện trong lãnh thổ quốc gia mình cho quốc gia khác (quốc gia yêu cầu) để xét xử hoặc để thi hành một bản án đã có hiệu lực đối với hành vi phạm tội của cá nhân này trên lãnh thổ quốc gia yêu cầu. [60] Định nghĩa này đã mô tả khá đầy đủ về hoạt động “dẫn độ”.