CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Phòng Tư pháp 1. Khái niệm, đặc điểm của Phòng Tư pháp Tư pháp là Theo thuyết tam quyền phân lập, tư pháp là một trong ba quyền của quyền lực nhà nước: lập pháp (làm pháp luật, ban hành pháp luật);hành pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp (giữ gìn, bảo vệ pháp luật, xử lý các việc vi phạm pháp luật). Theo quan điểm của nhà nước Việt Nam, tư pháp chỉ công việc tổ chức giữ gìn, bảo vệ pháp luật.
Tư pháp với nghĩa pháp lí chung nhất, tư pháp được quan niệm như là một ý tưởng về một nền công lí, đòi hỏi việc giải quyết những tranh chấp xảy ra trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng, bảo đảm lòng tin của nhân dân và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn pháp lí cho cá nhân, sự ổn định và phát triển của xã hội. Theo ngữ nghĩa Hán Việt thì tư pháp là trông coi, bảo vệ pháp luật. Từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh giải thích Tư pháp là pháp đình y theo pháp luật mà xét định các việc ở trong phạm vi pháp luật. Tư pháp dịch theo thuật ngữ justice có hai nghĩa – theo nghĩa hẹp, tư pháp là xét xử; theo nghĩa rộng, từ góc độ triết lý, tư pháp được coi là ý tưởng cao đẹp về một nền công lý, ở đó mọi phạm vi pháp luật đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, mọi tranh chấp trong xã hội được giải quyết hợp với lẽ phải và sự công bằng, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của con người được đảm bảo, lòng tin của nhân dân vào pháp luật được duy trì.
Khái niệm “Tư pháp” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, theo nghĩa rộng nhất, tư pháp là sự công bằng, công lý và các thiết chế nhằm duy trì, bảo đảm sự công bằng, bảo vệ nền công lý. Nếu ở nhiều nước, Tư pháp là xét xử là cơ quan tư pháp là Tòa án thì ở Việt Nam “Tư pháp được hiểu theo nghĩa rộng, là sự trộn lẫn toàn bộ hoạt động bảo vệ pháp luật trong đó hoạt động xét xử của Tòa án là trung tâm. Ngoài ra còn có các hoạt động bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, trợ giúp pháp lý. 14 Xét theo khía cạnh thể chế nhà nước, ở các nước thực hiện nguyên tắc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước, thì tư pháp được hiểu là một trong ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó quyền tư pháp được hiểu đồng nghĩa với quyền xét xử chỉ do toà án thực hiện.
Vì vậy, ở các nước này, nói đến cơ quan tư pháp tức là nói đến toà án. Ở nước ta, quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Như vậy, quyền tư pháp là một trong ba quyền hợp thành quyền lực nhà nước, được hiểu là hoạt động xét xử của các toà án và những hoạt động của cơ quan nhà nước khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của toà án như điều tra, truy tố, bổ trợ tư pháp nhằm bảo vệ chế độ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng và duy trì công lí. Để thực hiện quyền tư pháp đó, hệ thống cơ quan tư pháp Việt Nam bao gồm: toà án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thì hành án và các tổ chức tư pháp bổ trợ (như luật sư, công chứng, giám định tư pháp, tư vấn pháp luật.
Trong đó, toà án nhân dân là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp, sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa, giám định tư pháp thông qua các thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra phán quyết cuối phạm thuộc chương “Các lọai phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh" của Bộ luật hình sự năm 1999, cùng thể hiện quyền lực nhà nước, Hoạt động xét xử của toà án nhân dân cũng là nơi thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng và của toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước nói chung (Xf. Hành chính tư pháp; Cơ quan tư pháp). Tư pháp còn là từ chung chỉ các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử hoặc tên cơ quan làm các nhiệm vụ về hành chính tư pháp. Ví dụ: Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong tổ chức bộ máy nhà nước nước ta đã hình thành một hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ có tính chất tư pháp được tổ chức tương ứng với các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp từ trung ương đến địa phương, giúp cơ quan hành pháp quản lý hành chính nhà nước về bổ trợ tư pháp và quản lý nhà nước về hoạt động tư pháp gồm: Bộ Tư pháp giúp Chính phủ, Sở Tư pháp giúp UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp giúp UBND cấp huyện và công chức Tư pháp – Hộ tịch giúp UBND cấp xã. Tuy nhiên, về tính chất đây là cơ quan hành chính nhà nước, không có chức năng thực hiện quyền tư pháp như Tòa án nhân dân các cấp. 15 Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13, chính quyền địa phương ở cấp tỉnh và cấp huyện được thành lập các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp là cơ quan tham mưu giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Theo đó, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương và Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, thành phố, thị xã thực hiện những chức năng, nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp quản lý nhà nước về hành chính tư pháp.
Tại Thông tư số 07/2020/TT-BTP ngày 21/12/2020 của Bộ Tư pháp hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền của Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện, quy định: 1. Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: công tác xây dựng và thi hành pháp luật: theo dõi tình hình thi hành pháp luật: kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật: phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; trợ giúp pháp lý; nuôi con nuôi; hộ tịch; chứng thực; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và các công tác tư pháp khác theo quy định pháp luật. Phòng Tư pháp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo thẩm quyền, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp. Như vậy, có thể hiểu: Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực hành chính tư pháp; vừa chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức và các mặt hoạt động của UBND cấp huyện, vừa chịu sự chỉ đạo,hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước cấp trên, mà trực tiếp là Sở Tư pháp về chuyên môn nghiệp vụ.
Vị trí, vai trò của Phòng Tư pháp: Theo quy định tại điều 23 và điều 24 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Chính quyền địa phương ở huyện là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân huyện. Có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn huyện; Quyết định những vấn đề của huyện trong phạm vi 16 được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền; Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã; Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp tỉnh về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện; Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện. Điểm g khoản 1 Điều 26 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: Hội đồng nhân dân huyện quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện; Theo điều 9 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên.
Như vậy, trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức ở cấp huyện, Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn, tham mưu giúp việc UBND cấp huyện; đồng thời Phòng Tư pháp chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tư pháp cấp tỉnh theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều. Huyện ủy (và UBND cấp Các tổ chức chính tương đương) huyện trị - xã hội Phòng Phòng Phòng Đơn vị sự nghiệp chuyên chuyên chuyên do UBND huyện môn môn môn thành lập Sơ đồ 1. Cơ cấu tổ chức bộ máy UBND cấp huyện 17 Với vị trí là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nên hoạt động của Phòng Tư pháp mang tính chất “tham mưu”, “giúp việc” và “tư vấn” cho UBND trong hoạt động quản lý hành chính.