Tổng quan nghiên cứu
Quảng Bình là tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ với vị trí chiến lược quan trọng, quy mô dân số đến năm 2013 đạt trên 857.000 người và lực lượng lao động dồi dào trên 492.000 người, chiếm hơn 57% dân số toàn tỉnh. Mặc dù sở hữu nguồn lao động trẻ, nền kinh tế địa phương trong thời gian dài vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên thô, công nghệ sản xuất lạc hậu và năng suất lao động ở mức thấp so với bình quân cả nước. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để chuyển dịch cơ cấu nhân lực từ chiều rộng sang chiều sâu nhằm phục vụ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.
Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị của tác giả Nguyễn Thị Lý, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sở tại Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung làm rõ bản chất lý luận về phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời phân tích toàn diện thực trạng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Bình giai đoạn 1999 – 2013 (kể từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999) và đề xuất hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2020.
Phạm vi nghiên cứu bao quát 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong khoảng thời gian 14 năm. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc xác lập hệ thống 3 nhóm tiêu chí đánh giá phát triển nhân lực gồm số lượng, chất lượng và cơ cấu, cung cấp luận cứ khoa học để địa phương phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mức 55% và giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống dưới 45% vào năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết vốn con người của Theodore Schultz và Gary Becker, kết hợp khung quan điểm của Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Lao động Quốc tế và UNESCO về việc coi con người là nguồn vốn trung tâm quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa mô hình lý thuyết phát triển nguồn nhân lực qua giáo dục và đào tạo từ kinh nghiệm các nền kinh tế Đông Á của tác giả Lê Thị Ái Lâm (năm 2003), lý luận về nguồn lực con người trong công nghiệp hóa của tác giả Đoàn Văn Khải (năm 2005) và các quan điểm quản lý vốn con người của tác giả Phạm Thành Nghị (năm 2006).
Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:
- Nguồn nhân lực: Tổng thể tiềm năng thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý xã hội của toàn bộ lực lượng lao động xã hội.
- Nguồn nhân lực chất lượng cao: Bộ phận tinh hoa có trình độ chuyên môn kỹ thuật vững vàng, năng lực sáng tạo và tác phong công nghiệp đáp ứng yêu cầu công nghệ hiện đại.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn: Quá trình chuyển đổi căn bản các hoạt động sản xuất xã hội dựa trên việc đi tắt đón đầu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến gắn với kinh tế tri thức.
- Chỉ số phát triển con người: Thước đo tổng hợp phản ánh 3 trụ cột cơ bản là sức khỏe (tuổi thọ bình quân), học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học) và mức sống (thu nhập bình quân đầu người).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ chuỗi thời gian 15 năm (1999 – 2013) thông qua 2 cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở toàn quốc các năm 1999 và 2009, cùng các báo cáo thường niên của Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình với quy mô mẫu khảo sát mức sống dân cư từ 1.200 đến 1.500 hộ gia đình mỗi kỳ điều tra. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo địa bàn kinh tế xã hội và ngành nghề, kết hợp thu thập dữ liệu thứ cấp từ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Bình.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhằm phản ánh chân thực các quy luật vận động nội tại của lực lượng sản xuất, bảo đảm tính so sánh đồng bộ giữa các giai đoạn phát triển và làm sáng tỏ nguyên nhân của những mất cân đối trong cơ cấu việc làm tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô lực lượng lao động của tỉnh Quảng Bình tăng trưởng liên tục từ 380.000 người năm 1999 lên 492.200 người năm 2013, song chất lượng đào tạo chuyên môn kỹ thuật cải thiện rất chậm. Đến năm 2013, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh mới đạt 35,2%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 49,1% của cả nước, tạo ra khoảng cách chênh lệch lên tới 13,9 điểm phần trăm.
Thứ hai, cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế chuyển dịch không tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Năm 2013, khu vực nông - lâm - thủy sản vẫn thu hút tới 58,4% tổng số lao động đang làm việc, trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm 16,3% và khu vực dịch vụ chiếm 25,3%. Điều này phản ánh thực trạng nền kinh tế Quảng Bình vẫn mang đậm tính chất nông nghiệp truyền thống.
Thứ ba, cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng theo mô hình tháp ngược bất hợp lý. Trong tổng số lao động có chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ công nhân kỹ thuật trực tiếp sản xuất chỉ chiếm dưới 12%, dẫn đến tình trạng vừa thừa lao động chưa qua đào tạo, vừa thiếu hụt trầm trọng đội ngũ thợ lành nghề và kỹ sư thực hành phục vụ các khu kinh tế ven biển.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của những hạn chế trên xuất phát từ sự lạc hậu và thiếu linh hoạt của hệ thống giáo dục nghề nghiệp tại địa phương. Toàn tỉnh năm 2013 chỉ có 1 trường đại học và 4 cơ sở dạy nghề với quy mô đào tạo khiêm tốn, chương trình giảng dạy nặng về lý thuyết, thiếu liên kết với nhu cầu của các doanh nghiệp trong 2 khu kinh tế trọng điểm là Hòn La và Cửa khẩu Quốc tế Cha Lo.
Dữ liệu nghiên cứu khi được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu lao động theo ngành kinh tế năm 2013 và bảng so sánh các chỉ số thành phần của chỉ số phát triển con người giai đoạn 1990 – 2012 cho thấy rõ nét mối tương quan thuận giữa tỷ lệ đầu tư cho giáo dục trên tổng sản phẩm nội địa với năng suất lao động xã hội. So với các địa phương lân cận trong khu vực Bắc Trung Bộ như Thừa Thiên Huế hay Nghệ An, Quảng Bình có mức thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thấp hơn, khiến cơ hội tạo việc làm phi nông nghiệp cho hơn 280.000 lao động khu vực nông thôn bị thu hẹp đáng kể.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện chính sách quy hoạch và thu hút nhân tài: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình và Sở Nội vụ cần xây dựng cơ chế đãi ngộ vượt trội về nhà ở, phụ cấp thu hút tối thiểu 500 chuyên gia, kỹ sư đầu ngành và thạc sĩ chất lượng cao giai đoạn 2015 – 2020 về làm việc tại các trung tâm kinh tế trọng điểm.
Thứ hai, nâng cấp mạng lưới giáo dục và đổi mới chương trình đào tạo: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo tái cấu trúc Trường Đại học Quảng Bình và các trường nghề, nâng thời lượng thực hành thực tế lên 60% tổng thời gian học tập, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh lên mức 55% vào năm 2020.
Thứ ba, thành lập quỹ phát triển nhân lực thông qua xã hội hóa: Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh và Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì huy động nguồn vốn 150 tỷ đồng từ ngân sách địa phương và sự đóng góp của trên 2.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn nhằm tài trợ học bổng học nghề, đào tạo lại công nhân kỹ thuật.
Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu việc làm và giải quyết việc làm nông thôn: Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh triển khai các chương trình đào tạo chuyển đổi nghề cho 30.000 lao động nông nhàn sang lĩnh vực du lịch sinh thái và công nghiệp chế biến, phấn đấu kéo giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 45% vào cuối năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, cán bộ quản lý và hoạch định chính sách tại các cơ quan như Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình: Cung cấp hệ thống 34 chỉ tiêu thống kê và luận cứ khoa học phục vụ xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2015 – 2020 và tầm nhìn 2030.
Thứ hai, ban giám hiệu các trường đại học, cao đẳng và trung tâm giáo dục nghề nghiệp tại khu vực miền Trung: Tham khảo mô hình dự báo nhu cầu nhân lực để điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh cho 15 ngành kỹ thuật trọng điểm bám sát nhu cầu doanh nghiệp.
Thứ ba, các giám đốc điều hành và trưởng phòng nhân sự tại hơn 2.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình: Ứng dụng khung lý thuyết vốn con người vào công tác tuyển dụng, đào tạo nội bộ và nâng cao năng suất cho hơn 50.000 lao động công nghiệp.
Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế chính trị và Quản lý kinh tế: Tiếp cận phương pháp luận phân tích chuỗi thời gian 14 năm (1999 – 2013) về chuyển dịch cơ cấu lao động trong tiến trình công nghiệp hóa cấp địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Điểm nghẽn lớn nhất của nguồn nhân lực tỉnh Quảng Bình giai đoạn 1999 – 2013 được chỉ ra trong luận văn là gì? Luận văn dài 123 trang chỉ rõ điểm nghẽn nằm ở tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp (35,2% năm 2013 so với 49,1% của cả nước) và cơ cấu trình độ bất hợp lý, thiếu trầm trọng công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp vận hành máy móc hiện đại.
Chỉ số phát triển con người được luận văn sử dụng như thế nào trong đánh giá chất lượng nhân lực? Tác giả sử dụng chuỗi số liệu chỉ số phát triển con người Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2012 với 3 trụ cột sức khỏe, học vấn và thu nhập để chứng minh rằng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là chìa khóa gia tăng năng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Những ngành kinh tế nào tại Quảng Bình có nhu cầu nhân lực cấp thiết nhất đến năm 2020? Nghiên cứu dự báo nhu cầu dịch chuyển hơn 30.000 lao động sang các ngành công nghiệp chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng, năng lượng tái tạo và dịch vụ du lịch tại Quần thể Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng và các khu kinh tế ven biển.
Tại sao luận văn lại đề xuất kế thừa bài học phát triển nhân lực từ các nền kinh tế Đông Á? Bởi vì các nền kinh tế Đông Á đã thành công trong việc rút ngắn thời gian công nghiệp hóa qua 4 giai đoạn bằng cách ưu tiên phổ cập giáo dục, đẩy mạnh đào tạo nghề kỹ thuật và đầu tư ngân sách lớn cho giáo dục đại học chất lượng cao.
Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 được xác định ra sao? Luận văn xác định mục tiêu giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông - lâm - thủy sản từ 58,4% năm 2013 xuống dưới mức 45% vào năm 2020, đồng thời tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ lên tương ứng trên 55% nhằm tạo động lực tăng trưởng mới.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về vốn con người và phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn.
- Phân tích sâu sắc chuỗi dữ liệu 14 năm (1999 – 2013) của tỉnh Quảng Bình, chỉ rõ thực trạng lực lượng lao động đạt 492.200 người nhưng tỷ lệ qua đào tạo mới đạt 35,2%.
- Nhận diện chính xác 3 hạn chế cốt lõi gồm chất lượng chuyên môn thấp, cơ cấu ngành chuyển dịch chậm và mất cân đối cơ cấu trình độ đào tạo.
- Đề xuất đồng bộ 3 nhóm giải pháp thực thi với mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55% và giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 45% đến năm 2020.
- Khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá chiến lược quyết định sự thành công của tiến trình thoát nghèo và công nghiệp hóa tỉnh Quảng Bình.
Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp triển khai ngay các cơ chế liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng, đầu tư nguồn lực thỏa đáng để biến tiềm năng lao động của địa phương thành động lực phát triển kinh tế xã hội vững chắc trong giai đoạn tiếp theo.