CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG 1.1 Đại diện các bên trong quan hệ lao động 1.1 Quan niệm về đại diện các bên trong quan hệ lao động Theo nghĩa rộng, các quan hệ lao động bao gồm: quan hệ lao động của cán bộ, công chức nhà nước, quan hệ lao động của người làm công ăn lương và quan hệ lao động mang tính tự nguyện của các xã viên hợp tác xã. Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, luật lao động điều chỉnh cả quan hệ lao động của công nhân và quan hệ lao động của công chức, viên chức nhà nước. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động trên mang các đặc điểm khác nhau nên do nhiều ngành luật khác nhau điều chỉnh (luật lao động, luật hành chính, luật hợp tác xã. Đó cũng là thông lệ chung trên thế giới.
Quan hệ xã hội hình thành giữa người lao động làm công và người sử dụng lao động phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động. Đây là quan hệ lao động đặc trưng của nền kinh tế thị trường, phát triển đồng bộ với sự phát triển của nền kinh tế; còn được gọi là quan hệ lao động làm công ăn lương để phân biệt với quan hệ lao động của công chức nhà nước và một số quan hệ lao động khác. Trong nền kinh tế thị trường, luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động này. Theo Bộ Luật Lao Động 2019, người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động.
Mặt khác, Bộ Luật Lao Động 2012 định nghĩa người lao động là người làm việc theo “hợp đồng lao động”. Do đó, theo Bộ Luật Lao Động 2012, một cá nhân làm việc cho công ty theo hợp đồng không có tên là “hợp đồng lao động” có thể lập luận rằng mình không phải là người lao động của công ty. Tuy nhiên, lập luận như vậy có thể không áp dụng được theo Bộ Luật Lao Động 2019 nếu có thể xác định được rằng có sự thỏa thuận giữa công ty và cá nhân và cá nhân đó bị công ty quản lý, điều hành và giám sát. Người sử dụng lao động là một bên chủ thể của quan hệ pháp luật lao động, gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, các cá nhân và hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng người lao động.
Quan niệm về đại diện bên người lao động 13 Downloaded by sau xanh (saudinh2@gmail.com) lOMoARcPSD|39270540 Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp được xác định là tổ chức xã hội đơn thuần, chỉ làm chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của người lao động trong phạm vi quan hệ lao động. Theo Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019: “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp”. Quan niệm về đại diện bên người sử dụng lao động Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là đại diện cho một bên của quan hệ lao động.
Tư cách đại diện đó tạo ra cho chính bản thân các tổ chức đại diện người sử dụng lao động những quyền năng to lớn nhằm thống nhất quan điểm đối với vấn đề sử dụng lao động. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là “cầu nối” giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các quan hệ cụ thể và trong cơ chế hai bên, cơ chế ba bên nhằm hướng tới việc tăng cường đối thoại xã hội và cùng quyết định các vấn đề của lao động. Là chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi cần thiết và hợp pháp để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên của mình và bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật lao động. Là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác trong lao động và trong quá trình sản xuất xã hội cũng như quá trình hợp tác quc tế về lao động.2 Vai trò của đại diện các bên trong quan hệ lao động Chức năng của tổ chức đại diện NSDLĐ trước hết là bảo vệ doanh nghiệp và hình ảnh của doanh nghiệp, được thể hiện ở những nỗ lực của họ trong các đối thoại nhằm đạt được những điều kiện hợp lí nhất cho thành viên cũng như NLĐ; xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển lực lượng lao động có năng suất, chất lượng cao.
thông qua việc quan tâm đến NLĐ, chẳng hạn cung cấp đào tạo và phúc lợi hợp lí. tạo nên tình cảm tốt đẹp và sự gắn bó của NLĐ, qua đó giúp doanh nghiệp phòng ngừa và giải quyết hiệu quả các tranh chấp, tránh được các thiệt hại do tranh chấp gây ra, nâng cao uy tín, vị thế và sức hút của doanh nghiệp. 14 Downloaded by sau xanh (saudinh2@gmail.com) lOMoARcPSD|39270540 Chức năng đại diện cho doanh nghiệp trong quan hệ lao động. Các tổ chức đại diện cho bên sử dụng lao động là nơi tập hợp ý chí và nguyện vọng của các doanh nghiệp thành viên khi tham gia thương lượng.
Họ cũng đại diện cho thành viên tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về quan hệ lao động. Khi thực hiện chức năng này, các tổ chức đại diện cho NSDLĐ sẽ được uỷ quyền quyết định trong khuôn khổ các vấn đề đã được thống nhất với thành viên. Ngoài ra, tổ chức đại diện cho NSDLĐ còn có chức năng cung cấp dịch vụ và hỗ trợ các thành viên. Chức năng này biểu hiện khá đa dạng trong đó bao gồm việc cung cấp dịch vụ về quan hệ lao động và quản trị nguồn nhân lực cho thành viên, hỗ trợ vốn, công nghệ, giúp kết nối với bạn hàng trong và ngoài nước, cung cấp các dịch vụ đào tạo, tư vấn.
Cũng tương tự các tổ chức đại diện bên lao động, các tổ chức đại diện của NSDLĐ có vai trò quan trọng trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích cho bên sử dụng lao động, xây dựng và thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh. Là người đại diện tham gia các hoạt động đối thoại xã hội hai bên, ba bên, các tổ chức đại diện bên sử dụng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và giải quyết các xung đột trong quan hệ lao động, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định sản xuất, kinh doanh trong các ngành, nghề và doanh nghiệp. Bên cạnh đó họ cũng có vai trò quan trọng trong việc xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh. Vai trò của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho người tham gia thương lượng tập thể.
Tham dự phiên họp thương lượng tập thể; nếu có đề nghị của một trong hai bên thương lượng tập thể. Cung cấp, trao đổi các thông tin liên quan đến thương lượng tập thể. Trường hợp nhận được đề nghị bằng văn bản của một trong hai bên thương lượng tập thể; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở; tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở Trung ương và địa phương; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm cử cán bộ tham dự phiên họp thương lượng tập thể. 15 Downloaded by sau xanh (saudinh2@gmail.com) lOMoARcPSD|39270540 Cán bộ được cơ quan, tổ chức cử tham dự phiên họp thương lượng tập thể có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến nội dung thương lượng; hướng dẫn pháp luật về lao động cho người tham gia thương lượng tập thể.
Theo đó, trách nhiệm của các chủ thể không chỉ dừng lại ở việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho người tham gia thương lượng đạt được kết quả; mà còn có trách nhiệm tham gia phiên họp nếu có yêu cầu của một trong hai bên.3 Các loại đại diện các bên trong quan hệ lao động Bộ luật Lao động năm 2019 quy định có hai loại hình tổ chức đại diện đó là tổ chức công đoàn và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức của tổ chức công đoàn được xác định theo Luật Công đoàn năm 2012. Cơ cấu tổ chức của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp được quy định trong điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Theo đó, tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp sẽ bao gồm: Ban lãnh đạo và thành viên.
Ban lãnh đạo do thành viên của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bầu. Trong điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải nêu rõ nhiệm kỳ, người đại diện của tổ chức. Do nằm ngoài hệ thống Liên đoàn Lao động Việt Nam nên tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp sẽ không chịu sự chỉ đạo của Liên đoàn Lao động Việt Nam trừ trường hợp tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp gia nhập công đoàn Việt Nam thì thực hiện theo quy định của Luật Công đoàn năm 2012. Như vậy, khi Bộ Luật Lao động năm 2019 có hiệu lực, người lao động sẽ chính thức được thành lập các tổ chức đại diện cho mình, thay vì chỉ được lựa chọn tham gia vào tổ chức công đoàn như lâu nay.
Đây là điểm mới quan trọng trong Bộ luật Lao động năm 2019, thể hiện việc nội luật hóa các cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã ký kết.2 Pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động 1.1 Khái niệm pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động Quyền đại diện trong quan hệ lao động phát sinh khi cá nhân nhận dịch vụ pháp lý trong trường hợp có hành vi vi phạm quan hệ lao động (sa thải trái pháp luật, nghỉ việc không trả lương, v.