Đại Diện Các Bên Trong Quan Hệ Lao Động Theo Bộ Luật Lao Động Việt Nam Năm 2019

Tìm hiểu về đại diện các bên trong quan hệ lao động theo Bộ luật Lao động Việt Nam 2019. Nghiên cứu chuyên sâu về quyền, nghĩa vụ và vai trò của các tổ chức đại diện.

Trường đại học

Trường Đại học Đại Nam

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

2022

108
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

NHẬN XÉT NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU

THÔNG TIN SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG

1.1. Đại diện các bên trong quan hệ lao động

1.1.1. Quan niệm về đại diện các bên trong quan hệ lao động

1.1.2. Vai trò của đại diện các bên trong quan hệ lao động

1.1.3. Các loại đại diện các bên trong quan hệ lao động

1.2. Pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động

1.2.1. Khái niệm pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động

1.2.2. Các nguyên tắc pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động

1.2.2.1. Nguyên tắc tự do việc làm và tuyển dụng lao động
1.2.2.2. Nguyên tắc bảo vệ người lao động
1.2.2.3. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động
1.2.2.4. Tôn trọng các tiêu chuẩn lao động quốc tế và yêu cầu hội nhập

1.3. Ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẠI DIỆN CÁC BÊN TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2019

2.1. Thành lập và tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

2.1.1. Quy định về nguyên tắc thành lập tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

2.1.2. Quy định về đối tượng thành lập tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

2.1.3. Quy định về thành lập tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

2.1.4. Quy định về cơ cấu tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

2.2. Quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

2.2.1. Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn cơ sở

2.2.2. Quyền và trách nhiệm của tổ chức người lao động tại doanh nghiệp (TCCNLĐ)

2.2.3. Quyền và trách nhiệm của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI)

2.2.4. Quyền và trách nhiệm của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN CÁC BÊN TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động

3.1.1. Khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành về đại diện các bên trong quan hệ lao động

3.1.1.1. Hoàn thiện thể chế, pháp luật lao động và quan hệ lao động
3.1.1.2. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước về quan hệ lao động
3.1.1.3. Thúc đẩy đối thoại, thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể
3.1.1.4. Nâng cao vai trò trách nhiệm của tổ chức đại diện người lao động
3.1.1.5. Hoàn thiện hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ của tổ chức đại diện người sử dụng lao động
3.1.1.6. Hoàn thiện các thiết chế về giải quyết tranh chấp lao động
3.1.1.7. Củng cố và hoàn thiện cơ chế tham vấn ba bên về quan hệ lao động
3.1.1.8. Khuyến nghị phát triển quan hệ lao động

3.1.2. Đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

3.1.2.1. Các yếu tố trong nước
3.1.2.2. Các yếu tố bên ngoài
3.1.2.3. Thời cơ và thách thức tác động đến quan hệ lao động

3.1.3. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ pháp luật Việt Nam

3.1.3.1. Căn cứ điều kiện kinh tế chính trị xã hội của Việt Nam
3.1.3.1.1. Quan điểm của V. Lê-nin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
3.1.3.1.2. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới
3.1.3.2. Tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế
3.1.3.2.1. Tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO
3.1.3.2.2. Tình hình thực hiện các Tiêu chuẩn lao động quốc tế tại Việt Nam
3.1.3.2.3. Một số khuyến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả các tiêu chuẩn lao động quốc tế trong thời gian tới
3.1.3.3. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đại diện các bên trong quan hệ lao động
3.1.3.4. Đồng bộ với quá trình hoàn thiện các chế định khác của bộ luật lao động 2019

3.2. Hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động

3.2.1. Hoàn thiện các quy định về thành lập và tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

3.2.2. Hoàn thiện các quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

3.2.2.1. Đổi mới tổ chức, hoạt động của Công đoàn Việt Nam
3.2.2.2. Đối với tổ chức của người lao động ngoài hệ thống công đoàn Việt Nam
3.2.2.3. Đối với tổ chức của người lao động ngoài hệ thống công đoàn Việt Nam

3.2.3. Hoàn thiện các quy định về đảm bảo pháp lý cho hoạt động của tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Đại Diện Các Bên Nghiên Cứu Tổng Quan Quan Hệ Lao Động

Trong hệ thống chủ thể của quan hệ lao động, người sử dụng hoặc đại diện của họ có vị trí, vai trò rất quan trọng. Luật lao động theo trường phái cổ điển thường chú trọng đến việc bảo vệ người lao động, bởi lẽ người lao động là chủ thể yếu thế trên thị trường lao động và thường lép vế trong mối quan hệ lao động. Quan niệm về một thứ luật lao động với những quy phạm dày đặc nhằm tạo ra một “tấm áo giáp” pháp luật cho người lao động đã vô tình làm lu mờ vai trò của người sử dụng lao động – một đối tác cần thiết trong mối quan hệ lao động. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu của sự xuất hiện và phát triển của pháp luật lao động thì điều đó là cần thiết và dễ hiểu. Đến một giai đoạn phát triển nhất định của quan hệ lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động dần được khẳng định vị trí trong môi trường lao động và trong xã hội. Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động là một vấn đề cốt lõi, trọng tâm trong quan hệ lao động, trong mối quan hệ hai bên cũng như ba bên. Hiệu quả của đại diện người sử dụng lao động chính là mức độ tham gia của tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động đối với người lao động cũng như đối với nhà nước.

1.1. Tổng Quan Về Quan Hệ Lao Động Theo Luật Lao Động 2019

Theo nghĩa rộng, các quan hệ lao động bao gồm: quan hệ lao động của cán bộ, công chức nhà nước, quan hệ lao động của người làm công ăn lương và quan hệ lao động mang tính tự nguyện của các xã viên hợp tác xã. Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, luật lao động điều chỉnh cả quan hệ lao động của công nhân và quan hệ lao động của công chức, viên chức nhà nước. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động trên mang các đặc điểm khác nhau nên do nhiều ngành luật khác nhau điều chỉnh (luật lao động, luật hành chính, luật hợp tác xã). Đó cũng là thông lệ chung trên thế giới.

1.2. Quan Niệm Về Đại Diện Người Lao Động Trong Doanh Nghiệp

Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp được xác định là tổ chức xã hội đơn thuần, chỉ làm chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của người lao động trong phạm vi quan hệ lao động. Theo Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019: “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp”.

II. Đại Diện NSDLĐ Vai Trò Quan Trọng Trong Quan Hệ Lao Động

Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là đại diện cho một bên của quan hệ lao động. Tư cách đại diện đó tạo ra cho chính bản thân các tổ chức đại diện người sử dụng lao động những quyền năng to lớn nhằm thống nhất quan điểm đối với vấn đề sử dụng lao động. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là “cầu nối” giữa người lao độngngười sử dụng lao động trong các quan hệ cụ thể và trong cơ chế hai bên, cơ chế ba bên nhằm hướng tới việc tăng cường đối thoại xã hội và cùng quyết định các vấn đề của lao động. Là chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi cần thiết và hợp pháp để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên của mình và bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật lao động. Là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác trong lao động và trong quá trình sản xuất xã hội cũng như quá trình hợp tác quốc tế về lao động.

2.1. Chức Năng Bảo Vệ Doanh Nghiệp Của Tổ Chức Đại Diện NSDLĐ

Chức năng của tổ chức đại diện NSDLĐ trước hết là bảo vệ doanh nghiệp và hình ảnh của doanh nghiệp, được thể hiện ở những nỗ lực của họ trong các đối thoại nhằm đạt được những điều kiện hợp lí nhất cho thành viên cũng như NLĐ; xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển lực lượng lao động có năng suất, chất lượng cao thông qua việc quan tâm đến NLĐ, chẳng hạn cung cấp đào tạo và phúc lợi hợp lí. tạo nên tình cảm tốt đẹp và sự gắn bó của NLĐ, qua đó giúp doanh nghiệp phòng ngừa và giải quyết hiệu quả các tranh chấp, tránh được các thiệt hại do tranh chấp gây ra, nâng cao uy tín, vị thế và sức hút của doanh nghiệp.

2.2. Đại Diện Doanh Nghiệp Trong Thương Lượng Và Xây Dựng Chính Sách

Các tổ chức đại diện cho bên sử dụng lao động là nơi tập hợp ý chí và nguyện vọng của các doanh nghiệp thành viên khi tham gia thương lượng. Họ cũng đại diện cho thành viên tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về quan hệ lao động. Khi thực hiện chức năng này, các tổ chức đại diện cho NSDLĐ sẽ được uỷ quyền quyết định trong khuôn khổ các vấn đề đã được thống nhất với thành viên.

III. Luật Lao Động 2019 Thành Lập Tổ Chức Đại Diện Các Bên

Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đó sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước và tăng cường hội nhập quốc tế, thì việc quy định về quyền của đại diện NLĐ và đại diện người sử dụng lao động lại được quan tâm. Rõ nét nhất là việc quy định vị trí của đại diện người sử dụng lao động trong BLLĐ. Trong nền kinh tế thị trường, khi sức lao động là loại hàng hóa mang tính đặc biệt, sự tác động của pháp luật đối với đại diện người sử dụng lao động giữ vị trí, vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động, thúc đẩy cơ chế hai bên, ba bên và là cơ sở để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định.

3.1. Thực Trạng Tổ Chức Đại Diện NSDLĐ Hiện Nay Tại Việt Nam

Trên thực tế, các tổ chức đại diện NSDLĐ bảo vệ các đơn vị sử dụng lao động tham gia tổ chức đó, hoạt động riêng lẻ và chưa có sự thống nhất trong vấn đề bảo vệ quyền lợi chung cho bên giới sử dụng lao động trong mối tương quan với tổ chức đại diện NLĐ là tổ chức đại diện NLĐ. Vì vậy, quyền lợi của NSDLĐ chưa được bảo đảm một cách hiệu quả. Nguyên nhân chính là do các quy định pháp luật nước ta về vấn đề tổ chức, hoạt động cũng như việc thục tế hóa quy định của pháp luật của tổ chức đại diện NSDLĐ còn nhiều bất cập.

3.2. Nguyên Tắc Thành Lập Tổ Chức Đại Diện Theo Luật Lao Động

Cần làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật và thực trạng các các quy định pháp luật về tổ chức đại diện các bên trong quan hệ lao động. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề tổ chức đại diện NSDLĐ trên phương diện pháp lý, chủ yếu thuộc lĩnh vực pháp luật lao động. Cụ thể, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức đại diện NSDLĐ trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay.

IV. Hoàn Thiện Pháp Luật Nâng Cao Vai Trò Đại Diện Các Bên

Cần có các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tổ chức đại diện NSDLĐ. Nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật về tổ chức đại diện NSDLĐ trong quan hệ lao động. Phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về tổ chức đại diện NSDLĐ . Trên cơ sở đó, đưa ra môt số đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành trong lĩnh vực này.

4.1. Vai Trò Quản Lý Nhà Nước Về Quan Hệ Lao Động Cần Tăng Cường

Tăng cường vai trò quản lý nhà nước về quan hệ lao động là yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lợi của cả người lao độngngười sử dụng lao động. Nhà nước cần xây dựng các chính sách, pháp luật rõ ràng, minh bạch, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp.

4.2. Thúc Đẩy Đối Thoại Thương Lượng Ký Kết Thỏa Ước Lao Động

Việc thúc đẩy đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể là một trong những biện pháp hiệu quả để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Các bên cần chủ động tham gia vào quá trình đối thoại, thương lượng với tinh thần xây dựng, tôn trọng lẫn nhau để đạt được những thỏa thuận công bằng, hợp lý.

17/05/2025
Đại diện các bên trong quan hệ lao động theo bộ luật lao động việt nam năm 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG 1.1 Đại diện các bên trong quan hệ lao động 1.1 Quan niệm về đại diện các bên trong quan hệ lao động Theo nghĩa rộng, các quan hệ lao động bao gồm: quan hệ lao động của cán bộ, công chức nhà nước, quan hệ lao động của người làm công ăn lương và quan hệ lao động mang tính tự nguyện của các xã viên hợp tác xã. Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, luật lao động điều chỉnh cả quan hệ lao động của công nhân và quan hệ lao động của công chức, viên chức nhà nước. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động trên mang các đặc điểm khác nhau nên do nhiều ngành luật khác nhau điều chỉnh (luật lao động, luật hành chính, luật hợp tác xã. Đó cũng là thông lệ chung trên thế giới.

Quan hệ xã hội hình thành giữa người lao động làm công và người sử dụng lao động phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động. Đây là quan hệ lao động đặc trưng của nền kinh tế thị trường, phát triển đồng bộ với sự phát triển của nền kinh tế; còn được gọi là quan hệ lao động làm công ăn lương để phân biệt với quan hệ lao động của công chức nhà nước và một số quan hệ lao động khác. Trong nền kinh tế thị trường, luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động này. Theo Bộ Luật Lao Động 2019, người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động.

Mặt khác, Bộ Luật Lao Động 2012 định nghĩa người lao động là người làm việc theo “hợp đồng lao động”. Do đó, theo Bộ Luật Lao Động 2012, một cá nhân làm việc cho công ty theo hợp đồng không có tên là “hợp đồng lao động” có thể lập luận rằng mình không phải là người lao động của công ty. Tuy nhiên, lập luận như vậy có thể không áp dụng được theo Bộ Luật Lao Động 2019 nếu có thể xác định được rằng có sự thỏa thuận giữa công ty và cá nhân và cá nhân đó bị công ty quản lý, điều hành và giám sát. Người sử dụng lao động là một bên chủ thể của quan hệ pháp luật lao động, gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, các cá nhân và hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng người lao động.

Quan niệm về đại diện bên người lao động 13 Downloaded by sau xanh (saudinh2@gmail.com) lOMoARcPSD|39270540 Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp được xác định là tổ chức xã hội đơn thuần, chỉ làm chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của người lao động trong phạm vi quan hệ lao động. Theo Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019: “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp”. Quan niệm về đại diện bên người sử dụng lao động Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là đại diện cho một bên của quan hệ lao động.

Tư cách đại diện đó tạo ra cho chính bản thân các tổ chức đại diện người sử dụng lao động những quyền năng to lớn nhằm thống nhất quan điểm đối với vấn đề sử dụng lao động. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là “cầu nối” giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các quan hệ cụ thể và trong cơ chế hai bên, cơ chế ba bên nhằm hướng tới việc tăng cường đối thoại xã hội và cùng quyết định các vấn đề của lao động. Là chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi cần thiết và hợp pháp để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên của mình và bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật lao động. Là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác trong lao động và trong quá trình sản xuất xã hội cũng như quá trình hợp tác quc tế về lao động.2 Vai trò của đại diện các bên trong quan hệ lao động Chức năng của tổ chức đại diện NSDLĐ trước hết là bảo vệ doanh nghiệp và hình ảnh của doanh nghiệp, được thể hiện ở những nỗ lực của họ trong các đối thoại nhằm đạt được những điều kiện hợp lí nhất cho thành viên cũng như NLĐ; xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển lực lượng lao động có năng suất, chất lượng cao.

thông qua việc quan tâm đến NLĐ, chẳng hạn cung cấp đào tạo và phúc lợi hợp lí. tạo nên tình cảm tốt đẹp và sự gắn bó của NLĐ, qua đó giúp doanh nghiệp phòng ngừa và giải quyết hiệu quả các tranh chấp, tránh được các thiệt hại do tranh chấp gây ra, nâng cao uy tín, vị thế và sức hút của doanh nghiệp. 14 Downloaded by sau xanh (saudinh2@gmail.com) lOMoARcPSD|39270540 Chức năng đại diện cho doanh nghiệp trong quan hệ lao động. Các tổ chức đại diện cho bên sử dụng lao động là nơi tập hợp ý chí và nguyện vọng của các doanh nghiệp thành viên khi tham gia thương lượng.

Họ cũng đại diện cho thành viên tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về quan hệ lao động. Khi thực hiện chức năng này, các tổ chức đại diện cho NSDLĐ sẽ được uỷ quyền quyết định trong khuôn khổ các vấn đề đã được thống nhất với thành viên. Ngoài ra, tổ chức đại diện cho NSDLĐ còn có chức năng cung cấp dịch vụ và hỗ trợ các thành viên. Chức năng này biểu hiện khá đa dạng trong đó bao gồm việc cung cấp dịch vụ về quan hệ lao động và quản trị nguồn nhân lực cho thành viên, hỗ trợ vốn, công nghệ, giúp kết nối với bạn hàng trong và ngoài nước, cung cấp các dịch vụ đào tạo, tư vấn.

Cũng tương tự các tổ chức đại diện bên lao động, các tổ chức đại diện của NSDLĐ có vai trò quan trọng trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích cho bên sử dụng lao động, xây dựng và thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh. Là người đại diện tham gia các hoạt động đối thoại xã hội hai bên, ba bên, các tổ chức đại diện bên sử dụng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và giải quyết các xung đột trong quan hệ lao động, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định sản xuất, kinh doanh trong các ngành, nghề và doanh nghiệp. Bên cạnh đó họ cũng có vai trò quan trọng trong việc xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh. Vai trò của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho người tham gia thương lượng tập thể.

Tham dự phiên họp thương lượng tập thể; nếu có đề nghị của một trong hai bên thương lượng tập thể. Cung cấp, trao đổi các thông tin liên quan đến thương lượng tập thể. Trường hợp nhận được đề nghị bằng văn bản của một trong hai bên thương lượng tập thể; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở; tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở Trung ương và địa phương; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm cử cán bộ tham dự phiên họp thương lượng tập thể. 15 Downloaded by sau xanh (saudinh2@gmail.com) lOMoARcPSD|39270540 Cán bộ được cơ quan, tổ chức cử tham dự phiên họp thương lượng tập thể có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến nội dung thương lượng; hướng dẫn pháp luật về lao động cho người tham gia thương lượng tập thể.

Theo đó, trách nhiệm của các chủ thể không chỉ dừng lại ở việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho người tham gia thương lượng đạt được kết quả; mà còn có trách nhiệm tham gia phiên họp nếu có yêu cầu của một trong hai bên.3 Các loại đại diện các bên trong quan hệ lao động Bộ luật Lao động năm 2019 quy định có hai loại hình tổ chức đại diện đó là tổ chức công đoàn và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức của tổ chức công đoàn được xác định theo Luật Công đoàn năm 2012. Cơ cấu tổ chức của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp được quy định trong điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Theo đó, tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp sẽ bao gồm: Ban lãnh đạo và thành viên.

Ban lãnh đạo do thành viên của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bầu. Trong điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải nêu rõ nhiệm kỳ, người đại diện của tổ chức. Do nằm ngoài hệ thống Liên đoàn Lao động Việt Nam nên tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp sẽ không chịu sự chỉ đạo của Liên đoàn Lao động Việt Nam trừ trường hợp tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp gia nhập công đoàn Việt Nam thì thực hiện theo quy định của Luật Công đoàn năm 2012. Như vậy, khi Bộ Luật Lao động năm 2019 có hiệu lực, người lao động sẽ chính thức được thành lập các tổ chức đại diện cho mình, thay vì chỉ được lựa chọn tham gia vào tổ chức công đoàn như lâu nay.

Đây là điểm mới quan trọng trong Bộ luật Lao động năm 2019, thể hiện việc nội luật hóa các cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã ký kết.2 Pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động 1.1 Khái niệm pháp luật về đại diện các bên trong quan hệ lao động Quyền đại diện trong quan hệ lao động phát sinh khi cá nhân nhận dịch vụ pháp lý trong trường hợp có hành vi vi phạm quan hệ lao động (sa thải trái pháp luật, nghỉ việc không trả lương, v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Đại Diện Các Bên Trong Quan Hệ Lao Động Theo Luật Lao Động Việt Nam 2019: Nghiên Cứu Tổng Quan cung cấp cái nhìn tổng quát về vai trò và trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động theo quy định của Luật Lao động Việt Nam 2019. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý liên quan đến đại diện người lao động mà còn nêu bật những lợi ích mà việc tổ chức đại diện mang lại cho cả người lao động và doanh nghiệp.

Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có một tổ chức đại diện mạnh mẽ, giúp bảo vệ quyền lợi của người lao động và tạo ra môi trường làm việc công bằng hơn. Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Pháp luật về tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các quy định pháp luật liên quan đến việc tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp.

Việc tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quan hệ lao động và những thay đổi trong luật pháp hiện hành.