MỞ ĐẦU Agar là polysaccharide dị thể bao gồm agarose chiếm khoảng 70%, còn lại là agaropectin. Agarose có cấu trúc mạch thẳng được sắp xếp xen kẽ hai phân tử β-D- galactose và 3,6-anhydro-α-L-galactopyranose, liên kết với nhau bằng liên kết β-1,4 tạo thành 1 đơn vị neoagarobiose hoặc liên kết α-1,3 tạo thành 1 đơn vị agarobiose. Trong khi agaropectin là hỗn hợp dị thể có cấu trúc mạch ngắn, thành phần phân tử tương tự agarose được gắn thêm các liên kết với các gốc –OSO3-, –OCH3, glucuronate, hoặc pyruvate. Agarose có thể thủy phân thành các agarooligosaccharides (AOS) hoặc neoagarooligosaccharides (NAOS) dưới tác dụng của enzyme agarase.
Enzyme này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: thủy phân agar tạo các oligosaccharides có hoạt tính sinh học có một số công dụng hữu ích trong công nghệ thực phẩm, y học, dược phẩm, và mỹ phẩm; thu hồi DNA từ gel agarose; chuẩn bị tế bào trần từ tảo biển đây là vật liệu hữu ích trong các nghiên cứu sinh lý học và tế bào học. Agarase được chia thành hai nhóm: α-agarase (E.158) phân cắt liên kết α-1,3 tạo thành agarooligosaccharide với đơn phân là agarobiose, trong khi β-agarase (E.81) phân cắt liên kết β-1,4 tạo thành neoagarooligosaccharides với đơn phân là neoagarobiose. Cho tới nay agarase được tìm thấy từ rất nhiều nguồn khác nhau bao gồm: nước biển, trầm tích dưới biển, tảo biển, động vật thân mềm dưới biển, nước ngọt và đất. Mặc dù agarase đã và đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm, nhưng các nghiên cứu trong nước về enzyme này vẫn còn nhiều hạn chế.
Việc nghiên cứu đặc tính agarase nhằm đáp ứng các yêu cầu trong ứng dụng chế biến agar vẫn còn đang mở rộng và đầy hứa hẹn cho các nhà khoa học trên thế giới. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này tại Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, chưa được tập trung khai thác nghiên cứu. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu xác định đặc tính của một số chủng vi khuẩn thủy phân Agar phân lập tại Việt Nam” được lựa chọn tiến hành. Nguyễn Thị Lệ 9 K24-CNSH Trường Đại học Mở Hà Nội Khoa Công nghệ Sinh học Mục tiêu của luận văn này là xác định hoạt tính của các enzyme phân giải agar bằng các phương pháp định tính, định lượng, đồng thời khảo sát một số đặc tính cơ bản của vi sinh vật sinh enzyme cụ thể là : - Quan sát hình thái khuẩn lạc, tế bào - Đánh giá định tính khả năng phân giải agar - Đánh giá hệ protein và hệ enzyme phân giải agar bằng phương pháp điện di - Xác định hoạt tính enzyme phân giải agar bằng phương pháp DNS Nguyễn Thị Lệ 10 K24-CNSH Trường Đại học Mở Hà Nội Khoa Công nghệ Sinh học PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Cấu trúc agar Agar là loại polysaccharide dị thể có thành phần chính là agarose chiếm khoảng 70%, còn lại là agaropectin. Agarose có cấu trúc mạch thẳng được sắp xếp xen kẽ hai phân tử β- D-galactose và 3,6-anhydro-α-L-galactopyranose, liên kết với nhau bằng liên kết β-1,4 tạo thành 1 đơn vị neoagarobiose hoặc liên kết α-1,3 tạo thành 1 đơn vị agarobiose (Hình 1. Trong khi agaropectin là hỗn hợp dị thể có cấu trúc mạch ngắn, thành phần phân tử tương tự agarose và có thêm các liên kết với các gốc –OSO3-, – OCH3, glucuronate, hoặc pyruvate ở vị trí C2 hoặc C6 của phân tử 3,6-anhydro-α-L- galactose. Đặc tính hóa lý kèm theo là các ứng dụng tương ứng của agar phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ của agarose và agaropectin cũng như thành phần của các nhóm liên kết.
Cấu trúc của agarose. Về khối lượng, agarose có khối lượng phân tử cao trên 100 kDa. Trong khi đó, agaropectin có khối lượng phân tử nhỏ hơn dưới 20 kDa, trong thành phần cấu tạo có chứa sulfate từ 5 đến 8% nên thường không được ứng dụng trong thực phẩm. Tuy nhiên agaropectin là polysaccharide để tạo thành agarose khi thực hiện loại bỏ bớt hàm lượng sulfate trong cấu tạo của agaropectin.
Nồng độ agaropectin cao có ở trong tảo đỏ Gracilaria, Porphyra. Nguồn gốc agar Agar chủ yếu được chiết xuất từ thành tế bào của tảo đỏ Gelidium và Gracilaria. Gelidium là nguồn thu agar tốt nhưng việc nuôi trồng canh tác loại Nguyễn Thị Lệ 11 K24-CNSH Trường Đại học Mở Hà Nội Khoa Công nghệ Sinh học tảo này rất khó khăn, chỉ được trồng ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong khi đó, Gracilaria là nhóm tảo có khả năng nuôi trồng, canh tác dễ dàng và được trồng phổ biến trên thế giới.
Do vậy, Gracilaria trở thành nguồn sản xuất agar quan trọng trên thế giới. Các loại tảo đỏ sản xuất agar. Tính chất hóa lý Agar là một hỗn hợp của agarose và agaropectin với tỷ lệ khác nhau tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu ban đầu và quá trình sản xuất. Do vậy tính chất của từng loại agar khác nhau cũng khác nhau; tuy nhiên tất cả các loại agar có một số tính chất lý hóa.
Nguyễn Thị Lệ 12 K24-CNSH Trường Đại học Mở Hà Nội Khoa Công nghệ Sinh học - Tính tan: Agar không tan trong nước lạnh, tan nhẹ trong ethanolamine và tan tốt trong formamide. Ở trạng thái ẩm có thể tan tốt trong nước ở 25ºC, ở trạng thái sấy khô agar chỉ tan trong nước nóng. Agar sẽ đông lại ở 40-50ºC và nóng chảy ở 80- 85ºC. - Khả năng tạo gel: Agar tạo thành gel sau khi được đun nóng và làm lạnh mà không cần bổ sung thêm các tác nhân tạo gel, trong khi carrageenan cần kali hay protein để tạo gel, alginate cần canxi hay các cation hóa trị hai và pectin cần nồng độ đường cao hoặc môi trường axit để tạo gel.
Các phân tử agarose trong agar có sự biến đổi từ cấu trúc cuộn sang cấu trúc xoắn và sau đó các chuỗi xoắn tạo thành một mạng lưới không gian ba chiều nhốt các chất khô bên trong nhờ lượng liên kết hydro rất lớn trong agarose. Khả năng tạo gel và độ bền gel phụ thuộc vào nồng độ agar và phân tử lượng trung bình (phân tử lượng trung bình càng lớn thì gel tạo thành càng bền). Dung dịch có chứa 1,5% agar sẽ tạo gel ở nhiệt độ 32-43ºC và không tan chảy dưới 85ºC. Đây là đặc tính quan trọng của agar so với các tác nhân tạo gel khác.
- Tính chịu nhiệt: Agar có khả năng chịu nhiệt rất tốt, tính chất tạo gel không thay đổi ở nhiệt độ cao hơn 100oC, cho phép khử trùng tốt. - Độ nhớt của agar phụ thuộc vào hàm lượng agaropectin của nguồn nguyên liệu. Nói chung độ nhớt của agar tương đối ổn định ở pH 4,5-9,0. Agar có thể sử dụng tốt trong khoảng pH 5-8.
- Agar có khoảng lưu giữ và tăng cường mùi vị của sản phẩm khi trộn lẫn, có vai trò cố định mùi vị của thực phẩm. - Agar tạo gel không có hương vị và có màu trong suốt nên có thể dễ dàng bổ sung thêm đường, glucose, glycerine,. làm cho thực phẩm có độ sánh hấp dẫn. - Agar có khả năng đảo ngược quá trình tạo gel hóa và tan chảy ở nhiệt độ cao mà không làm thay đổi thuộc tính ban đầu.
Nguyễn Thị Lệ 13 K24-CNSH Trường Đại học Mở Hà Nội Khoa Công nghệ Sinh học Nhờ các đặc tính trên, agar thường được sử dụng trong công nghệ chế biến thực phẩm như: thay thế cho một số đồ ngọt, phô mai chế biến. hoặc làm phụ gia cho các món nướng, bánh kẹo, sản phẩm từ thịt và các sản phẩm sữa. Agar là loại polysaccharide không tiêu hóa được đối với phần lớn các vi sinh vật nên được sử dụng để làm giá thể nuôi cấy vi sinh vật. Ngoài ra, agar đã được thử nghiệm để sản xuất màng sinh học agar- protein đậu nành để tăng cường tính chất hóa lý.
Nó cho thấy khả năng tương thích tốt với protein đậu nành và làm giảm độ hòa tan của màng, cho phép lớp màng này lưu giữ các hoạt chất sinh học. Agar còn được ứng dụng trong ngành dệt, thực phẩm chức năng và một số ứng dụng khác. Nhờ những đặc tính hữu ích trong việc phát triển vật liệu thông minh cho vật liệu composite và ứng dụng hấp phụ, agar được cho là vật liệu đầy hứa hẹn sẽ được khám phá hơn nữa trong tương lai. Nguồn gốc agarase Agarase là enzyme thuộc nhóm glycoside hydrolase có khả năng thủy phân agar tạo thành các sản phẩm có khối lượng phân tử thấp.
Agarase được chia làm hai loại enzyme là α-agarase (EC 3.158) phân cắt liên kết α-1,3- glycoside và β-agarase (EC 3.81) phân cắt liên kết β-1,4-glycoside trong nội phân tử agar tạo các oligosaccharide. β-Agarase được tìm thấy phổ biến hơn α-agarase trên cơ sở dữ liệu CaZy. Nguyễn Thị Lệ 14 K24-CNSH Trường Đại học Mở Hà Nội Khoa Công nghệ Sinh học Hình 1. Sơ đồ vị trí phân cắt của agarse.
Rất nhiều agarase từ nguồn vi sinh vật biển được phân lập từ nước biển, trầm tích biển, tảo biển và động vật thân mềm dưới biển đã được tinh chế và nghiên cứu đặc tính. Khối lượng phân tử của chúng có sự chênh lệch lớn từ 20 đến 360 kDa. Enzyme nhỏ nhất được tìm thấy ở chủng vi khuẩn Vibrio sp. AP- 2 từ tảo biển với khối lượng 20 kDa, trong khi enzyme lớn nhất được phát hiện ở Alteromonas agarlyticus GJ1B từ nước biển với khối lượng đạt 360 kDa.
Ở môi trường nước ngọt và trên đất liền, khối lượng phân từ của agarase từ vi khuẩn nước ngọt Cytophaga flevensis đạt khoảng 26 kDa, trong khi các enzyme từ đất có khối lượng lớn hơn nhiều: 100 kDa ở Acinetobacter sp. AGLSL- 1,113 kDa ở Bacillus sp. MK03 và 180 kDa ở Alteromonas sp. Trong đó agarase từ Acinetobacter sp.
AGLSL-1 có hoạt tính đặc hiệu đạt 397 U/mg, cao nhất trong tất cả các enzyme đã công bố trước năm 2010. Cả bốn enzyme này đều thuộc nhóm β-agarase. Tất cả các vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp agarase được phân lập chủ yếu là các vi khuẩn gram âm. Hầu như chưa có nghiên cứu báo cáo nào về agarase được sinh tổng hợp từ nấm sợi, nấm men.
Các agarase được phân lập chủ yếu là enzyme ngoại bào; rất ít agarase được phân lập là enzyme nội bào. Nguyễn Thị Lệ 15 K24-CNSH Trường Đại học Mở Hà Nội Khoa Công nghệ Sinh học 1. α-agarase α-agarase phân cắt liên kết α-1,3 để tạo các mạch agarooligosaccharide ngắn chứa 3,6-anhydro-L-galactose ở đầu khử và sản phẩm cuối cùng là agarobiose. Hiện nay mới phân lập được hơn 10 enzyme α-agarase từ nước biển và trầm tích dưới biển, các enzyme này đều thuộc họ GH 96 phân cắt agarose tạo sản phẩm cuối là agarotetraose.
Trong đó mới chỉ có 5 α-agarase được nghiên cứu đặc tính, có nguồn gốc từ: (1) Alteromonas agarlyticus GJ1B; (2) Thalassomonas sp. JAMB-A33; (3) Thalassomonas sp. LD5; (4) Catenovulum agarivorans; (5) Catenovulum sediminis WS1-A.