Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây mit 1.1 Phân loại khoa học Cây mít (Artocarpus heterophyllus) thuộc chỉ Artocarpus thuộc họ Dâu tam (Moraceae) cùng với các chi Ficus, Morus va Maclurapomifera thuộc bộ Gai (Urticales) còn gọi là bộ Tầm ma, là một bộ trong lớp thực vật hai lá mầm trong hệ thống Cronquist về phân loại nhóm thực vật có hoa (Phạm Hùng Cương, 2019).2 Nguồn gốc phân bố địa lý Cây mít (Artocarpus heterophyllus) được cho là có nguồn gốc ở An Độ và Bangladesh. Những phát hiện khảo cô học cho rang mít được trồng cách đây 3. Mit cũng được trồng rộng rãi tại khu vực Đông Nam A (APAARI, 2012). Trồng nhiều mít nhất cũng là các nước Đông Nam Á, Thái Lan, Philippines, Ấn Độ, Bangladesh (Trần Văn Minh, 1997).
Theo Phạm Hùng Cương (2019), hiện nay cây mit được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới như: Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Sri Lanka, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines. Cây mit cũng được tìm thấy trên khắp châu Phi (như ở Cameroon, Uganda, Tanzania, Madagascar, va Mauritius), cũng như ở nhiều nước nhiệt đới Nam và Trung Mỹ như Brazil, Jamaica, Nam Florida. Quả mit và các sản phâm từ mít là một mặt hàng thực phẩm phổ biến trên khắp các châu lục khi giao thương quốc tế ngày càng mở rộng. Tuy nhiên văn hóa âm thực từ quả mít và các sản phẩm từ mít phong phú nhất ở Nam Á và Đông Nam Á.3 Đặc tính sinh học Rễ: Theo Vũ Công Hậu (2000), rễ cọc phát triển ngay từ nhỏ, đánh cây đi trồng dé làm chết cây con.
Ở cây gia bộ rễ phát triển mạnh có khi nổi lên mặt đất bám chắc, cho nên chóng gió bão tốt. Thân: Thân mit có kích thước trung bình, thường đạt chiều cao 8 - 25 m và đường kính gốc 30 - 80 em. Ở tất cả các bộ phận của cây khi bị thương sẽ chảy ra mủ trắng dính (Haq, 2006). Lá: Lá mọc xen kẽ có mép lá trơn, lá đơn, cứng và lớn có thể đài lên đến 16 em nhưng không qua 20 cm.
Lá có hình elip hoặc bau dục (Haq, 2006). Ở cây con ở vườn ươm những lá đầu có khía nhưng khi cây lớn lên lá trở về hình tròn vì thế gọi là “heterophyllus” (Vũ Công Hau, 2011). Hoa: Mit thuộc loài hoa don tính đồng chu. Hoa mọc ra từ thân chính và các nhánh cây lớn tuổi.
Hoa đực nở trước hoa cái từ 3 - 5 ngày. Hoa cái lớn hơn hoa đực, hình elip hoặc tròn, với một đài hoa hình ống. Hoa có thể thụ phấn nhờ gió và côn trùng, nhờ vậy nên có tỷ lệ thụ phan chéo cao. Giống mit Thai siêu sớm có 3 kiểu phát hoa: phát hoa chỉ có cụm hoa đực, phát hoa có cả cụm hoa đực va cái, và phát hoa chỉ có cụm hoa cái, trong đó kiêu phát hoa chỉ có cụm hoa cái chiếm tỷ lệ >50% trong cả mùa mưa và mùa nắng (Lê Trí Nhân, 2016).
Trong điều kiện môi trường thích hợp, mít có thé ra hoa quanh năm (Haq, 2006). Hoa đực và hoa cái sinh cùng một bao, chung một cuống rất to khỏe. Mỗi bao gồm nhiều hoa, không có cánh, dính vào nhau thành những cụm hoa gọi là “đái mít” có đực riêng, cái riêng. Hoa đực rụng sớm còn hoa cái sau khi đã thụ phấn lớn lên thành một quả phức hợp, mỗi mui là một quả đơn.
Ở miền Bắc ra hoa vào tháng 3, 4 chín vào tháng 7, § nhưng cũng có cây ra hoa cả về mùa rét gọi là “mít tứ thời”. Ở miền Nam mít ra hoa vào đầu mùa mưa (Vũ Công Hậu, 2000). Cây mít trồng từ hạt ra hoa khi 4 - 5 tuổi, quả thuộc loại quả phức. Hoa xuất hiện trên những cuống ngắn, thô, phân nhánh, mọc trên thân chính hoặc các cành lớn hơn.
Càng già hoa cảng mọc cao trên các cành. Cũng có khi cây già, hoa mít ra cả trên những rễ trồi lên trên mặt đất. Hoa đực nhiều, không có cánh hoa, mọc chen nhau trên 4 cùng một trục, nhỏ và dài, bao phân nối lên trên bê mặt cụm hoa. Hoa cái cũng sinh ra thành từng cụm, không có cánh hoa, mọc sát nhau trên cùng một trục, to hơn, mỗi cụm có tới vai hoa, nhụy chẻ đôi, nỗi lên trên bề mặt cum hoa (Lê Phương Thu, 2015).
Trái: Trái mít được mọc ra chủ yếu trên các thân cây và một phần của nhánh chính. Trái có thể trưởng thành trong 79 - 163 ngày hoặc có thể là 180 - 240 ngày sau khi xuất hiện của gai hoa. Theo Tôn Thất Trình (2000), thì ba năm sau khi trồng thì cây mít đã ra trải, nhưng phải 10 năm trở đi năng suất cây mít mới cao. Cơm múi mít khi chin màu vàng, ngọt và tùy giống có nhiều hay ít nước, nát hay dai.
Trái trưởng thành có thể được chia thành 10 giai đoạn, sự gia tăng kích thước trái và các bộ phận khác nhau trong quá trình trưởng thành cho thấy tốc độ tăng trưởng từ giai đoạn đến giai đoạn là ít thống nhất. Ngoài ra, Haq (2006), cho rằng trái mít thuộc nhóm cây hô hấp đột phát. Sau khi quả mít chuyển sang màu nâu và giá trị cảm quan giảm nhanh chóng nên cần được bảo quản lạnh, tùy thuộc vảo từng loại giống mít, nhiệt độ tối ưu để tồn trữ mít là 13 + 1°C, có thể tồn trữ được từ 2 - 4 tuần. Trái cây nhiệt đới thường không tổn trữ đưới 13°C, do tiếp xúc với nhiệt độ thấp trái cây bị tổn thương, nên bị sam màu, ảnh hưởng đến chất lượng trái cây.
Hạt: Sự phát triển của những hạt xảy ra song song với sự phát triển của trái bắt đầu với sự thụ phan thành công của hoa. Hat được bao phủ bằng một lớp màu trắng, mỏng. Hat và vỏ lụa có thé trở nên rất khác biệt hai tháng sau khi thụ phan. Hạt có thể trở nên phát triển đầy đủ trong vòng bốn tháng sau khi thụ phan (Haq, 2006).
Múi: Múi có kích thước 4 - 11 cm chiều đài, 2 - 4 cm chiều rộng, trọng lượng từ 6 - 53 g. Màu sắc múi biến đổi tùy theo giống từ vàng, vàng cam hay tim đỏ (Morton, 1987). Vỏ: Theo Morton (1987), vỏ trái khi sống vỏ màu xanh, khi chín vỏ chuyển màu vàng xanh, gai (do định các hoa dính lại với nhau nở rộng có dạng hình nón. Phần bên trong là những “trái” (thường gọi là múi, là do bao hoa phát triển hoan toản).
Xơ, cùi và lõi: Các thành phần này được xem như chất phế thải không ăn được. Tuy nhiên, ngày nay công nghệ chế biến phát triển thì chúng trở nên có ích. Xơ là thành phần hoa không phát triển, chúng là thành phần chính tạo nên bột mít xay nhuyễn. Nó còn làm hương vi tạo nên rượu vang.
Vỏ va cùi trái cũng có công dụng tương tự. Ngoài ra chúng còn dùng làm thức ăn trong chăn nuôi gia súc (Morton, 1987).4 Yêu cầu sinh thái của cây mít Nhiệt độ, 4m độ: Cây mit chỉ thích nghi với khí hậu nhiệt đới âm và cận nhiệt đới. Nhiệt độ thích hợp cho cây mít sinh trưởng và phát triển thuận lợi là 20 - 329C. Cây mít nhạy cảm với sương giá.
Khi nhiệt độ hạ thấp đến 0°C lá mít sẽ hỏng. Khi nhiệt độ xuống tới - 1°C cành bắt đầu chết, cả cành và cây có thé bị chết ở khi nhiệt độ xuống tới - 2°C (Haq, 2006; Jonathan va cs, 2016). Cây mit sinh trưởng tốt nhất ở độ âm không khí từ 70 - 80%. Ở giai đoạn cây ra hoa rất nhạy cảm với độ âm.
Nếu quá khô hoặc qua 4m ướt đều gây rụng quả non. Các thời kỳ khác thì âm độ không khí hầu như ít ảnh hưởng (Jonathan và cs, 2016). Nước: Mít là cây có bộ rễ ăn sâu, nên có khả năng hút nước ở tầng đất sâu, vì vậy cây chịu hạn tốt. Mít có thể chịu được điều kiện khô hạn trong 3 - 4 tháng.
Tuy nhiên theo Vũ Công Hậu (2001) chỉ nên trồng mít ở những vùng có lượng mưa trung bình hàng năm từ >1. Dé cây có thé phát triển tốt cho năng suất 6n định cần lượng mưa hàng năm từ 1. Với lượng mưa < 1000 mm, mức độ tăng trưởng của cây sẽ bị chậm lại. Ánh sáng: Mít là cây ưa sáng.
Số giờ chiếu sáng từ 2.500 giờ/năm là điều kiện lý tưởng cho cây sinh trưởng phát triển cho năng suất cao. Nếu thiếu sáng, cây sẽ không có quả. Dat đai: cây mít phát triển tốt nhất trong khu vực vi độ 25° Bắc và Nam của xích đạo. Do độ cao chi phối khí hậu nên ảnh hưởng của độ cao nên cây không thích hợp với độ cao lớn.
Ở Ấn Độ, mít phát triển mạnh ở phía nam dãy Himalaya ở độ cao dưới 1. Tuy nhiên ở độ cao >1.200 m mít có chất lượng kém và chỉ có thé sử dụng để nấu ăn (Morton, J. Chất lượng quả tốt hơn ở độ cao thấp hơn, từ 152 - 213 m (Haq, 2006). Ở Việt nam vùng núi phía Bac thường có sương mudi nên cây mít chủ yêu được trồng ở vùng trung du và đồng bằng (độ cao dưới 200 m).
Ở Tây Nguyên, riêng vùng Đức Trọng - Lâm Đồng cây mít vẫn sinh trưởng và phát dục bình thường ở độ cao 1.000 m tuy có chậm hơn các vùng thấp (Vũ Công Hậu, 2001).2 Tác nhan gây hiện tượng den xơ mít Theo Nguyễn Thị Kiều (2021) qua kết quả giải trình tự whole genome vi khuan với độ phủ thấp (10X) xác định toàn bộ vùng gene 16S (23X) đã kết luận được vi khuẩn gây bệnh xơ đen trên mít siêu sớm (Artocarpus heterophyllus) tại Hậu Giang là vi khuẩn Pantoea Stewartii. Và kết qua này trùng khớp với kết quả công bố bệnh xơ đen trên mít tại Malaysia (Dzarifah Zulperi và cs, 2018) và Mexico (Hernandez - Morales và cs, 2017) là vi khuẩn Pantoea stewartii gây ra. Bên cạnh đó, Việt Nam có chủng vi khuẩn Pantoea stewartii gây ra bệnh héo vi khuẩn và bệnh bạc lá trên bắp.3 Đặc điểm hình thái, sinh hóa vi khuẩn Pantoea stewartii Theo Gapasin và cs (2014) và Dzarifah Zulperi và cs (2018), đã tiến hành các thử nghiệm liên quan đến việc xác định vi khuẩn gây bệnh den xơ mit thông qua các đặc điểm hình thái, sinh hóa và cấy trên các loại thực vật khác. Nhận định vi khuẩn Pantoea stewartii gây bệnh đen xo là vi khuẩn Gram âm với hình thái màu vàng, không di động, không sinh bảo tử, các tế bào hình que thắng và ngắn, kích thước khoảng 0,4 - 0,7 x 0,9 - 2,0 um, xuất hiện ở dạng chuỗi đơn lẻ và ngắn.
Khi được nuôi cấy, các khuẩn lạc có màu vàng kem, vàng chanh hoặc vàng cam và phẳng, lồi lên trên thạch dinh dưỡng glucose.