Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÒ DIỄN, TRÒ CHƠI DÂN GIAN VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI ĐỀN THƯỢNG 1. Lý luận chung về trò diễn, trò chơi dân gian 1. Trò diễn dân gian 1. Khái niệm về trò diễn Trong văn hóa, lễ hội Việt Nam hiếm có sự tách biệt rạch ròi giữa trò diễn và trò chơi dân gian: “Trò diễn gắn kết rất mật thiết với nhân vật được phụng thờ.
Những sự tích, những chiến công, phẩm chất anh hùng, cao quý, hay nói cách khác là cuộc đời của nhân vật phụng thờ được “trình diễn” bằng những động tác, nghi thức, v.v…để biểu lộ lòng thành kính, biết ơn của người dân” [30, tr. Các địa điểm diễn ra trò diễn, cũng thường được người dân giải thích là nơi diễn ra trận đánh, nơi vui chơi, hay nơi hóa, v.v… của thần thánh. Sự độc đáo của mỗi trò diễn còn được tạo dựng bởi các vật phẩm dâng cúng. Đó có thể là những vật phẩm mang tính nghi lễ, gắn kết với nhân vật phụng thờ (món ăn quen thuộc, vật dụng thường dùng…của nhân vật được phụng thờ) hay những vật phẩm được tạo ra từ một ý niệm, từ cõi vô thức trao truyền tới thế hệ hôm nay [4, tr.
Đặng Hoài Thu cho rằng: Hiểu một cách đầy đủ, về mặt nghệ thuật “trò diễn” gồm: động tác có tính nghệ thuật (quy cách hóa hoặc thẩm mỹ hóa); ngôn ngữ nói (nghệ thuật ngôn từ); nghệ thuật âm nhạc dân gian; nghệ thuật múa dân gian; nghệ thuật tạo hình dân gian và bài trí; phục trang; hóa trang [30, tr. 11 Trò diễn dân gian bao gồm các loại hình văn học nghệ thuật, các trò chơi dân gian mang tính vui khỏe, tính khéo léo đua tài hay các tục hèm, bên cạnh đó thì một số trò nhại (bắt chước hoặc tái hiện, biểu diễn lại các tích, các hoạt động một cách hài hước, cách điệu). Trò diễn, nếu hiểu là một hoạt động nghệ thuật dân gian thì yêu cầu chủ đạo được đặt ra là: Tính biểu diễn (những động tác của cơ thể con người). Ở các hình thức văn học dân gian kể miệng khi diễn thì yếu tố xướng là chính như khi kể chuyện chẳng hạn.
Tuy nhiên, khi đã trở thành trò diễn dân gian, tính diễn xướng vẫn được bảo lưu trong các trò diễn. Phải có diễn xướng thì mới đảm bảo được tính chất trang nghiêm (khi trò diễn được đem ra nghinh thánh thần, diễn hay hát là để thờ thần) [30, tr. Diễn xướng là một môi trường chủ đạo của trò diễn dân gian. Chính vì vậy: Những buổi trình bày các trò diễn phải có diễn xướng, phải vận dụng các khả năng tổng hợp những hình thái văn nghệ để phục vụ cho nhu cầu thẩm mỹ và nhu cầu nghi lễ, trong trường hợp này diễn xướng trở thành một phương thức để thể hiện.
Có thể lấy ví dụ cụ thể từ những giá đồng được trình diễn trong các nghi lễ thờ Tứ phủ, thực chất vẫn là những màn biểu diễn nghệ thuật. Giá đồng về một cô ở miền núi (Chầu Lục), một viên võ tướng (Quan lớn Tuần Tranh), một ông (Hoàng Bảy, Hoàng Ba) đều có những nhân vật diễn trò phù hợp với tính cách nhân vật. Đi kèm theo đó là trang phục, đạo cụ, đặc biệt là động tác diễn của “con trò”. Tất cả “con trò” đều không nói hay hát gì, mà họ trình bày như một cảnh kịch câm.
Nhóm cung văn hát lên sự tích của những nhân vật được diễn 12 và nhóm nhạc công thì tấu những bản nhạc cốt làm nổi bật động tác của con trò. Như vậy vừa có yếu tố diễn của con trò, vừa có yếu tố xướng (hát) của người tham dự bên ngoài [30, tr. Nói về mối quan hệ giữa “trò diễn” và “diễn xướng”, TS. Đặng Hoài Thu nhận xét: Khái niệm “trò diễn” có nghĩa chuyên môn hơn, hẹp hơn khái niệm “diễn xướng”.
trò, nghĩa là một áng hiện thực được tái tạo thông qua phương thức biểu hiện nghệ thuật, còn diễn xướng bao gồm cả trò, cả văn học nói, cả những hình thức sinh hoạt văn hóa có trình diễn, những thực tiễn sinh hoạt tinh thần của nhân dân lao động [30, tr. Diễn xướng vừa là nghệ thuật, vừa phản ánh sinh hoạt thường nhật trong nghệ thuật như: Những người ở Phường vải hát ví, người đi cấy hát ở trên cánh đồng,. GS Hoàng Tiến Tựu đã phân chia “diễn xướng dân gian” thành bốn loại như sau: Nói (kèm theo động tác điệu bộ) là hình thức biểu diễn chủ yếu của tục ngữ, câu đố.; Kể (kèm theo động tác điệu bộ) là hình thức biểu diễn chủ yếu của các loại truyện kể dân gian như: thần thoại, truyện cười.; Hát (kèm theo động tác điệu bộ hoặc vũ) là hình thức biểu diễn chính của các loại dân ca: hò mái nhì, hò mái đẩy, hò giã gạo, hát quan họ.; Diễn (bao gồm cả nói, hát, động tác, điệu bộ hoặc vũ.) là hình thức biểu diễn của những loại trò diễn mà lâu nay vẫn được coi là “nghệ thuật sân khấu dân gian”. Đây chính là phương thức biểu diễn chủ yếu, tiêu biểu nhất của diễn xướng dân gian hiểu theo nghĩa chặt chẽ của từ này [36, tr.
Qua khảo sát thực tế, tác giả tập trung vào một số trò diễn trong lễ hội. Khái niệm “trò diễn” trong môi trường diễn xướng ở đây được hiểu: “Những 13 hình thức sinh hoạt văn hóa của nhân dân mang tính biểu diễn, tính nghệ thuật và cả những trò phô diễn tài nghệ, những hình thức thi tài đua khéo, các trò múa” [30, tr. Phân loại trò diễn Những trò diễn dù biểu hiện dưới hình thức nào (vui khỏe, múa, hát, phô diễn tài nghệ.) nếu được tổ chức vào các dịp hội làng hằng năm đều được gắn chặt với tín ngưỡng, mang tính chất và ý nghĩa là những lễ nghi. Trò diễn không chỉ để góp vui cho dân làng mà còn mang mục đích quan trọng, một ý nghĩa thiêng liêng gắn với thánh thần.
Trò diễn là những sinh hoạt văn hóa mang tính biểu diễn và tính nghệ thuật có trong hội làng. Trò diễn được phân thành bốn loại: Các trò diễn vui khỏe, Các trò thi tài đua khéo, các trò múa và trò trình nghề, các trò diễn mang hình thức sân khấu [30, tr. Tiêu biểu: Trò sỹ, nông, công, thương là một trò vui rất đặc sắc của vùng đồng bào. Trò vui mang tính văn nghệ dân gian thể hiện vai trò quan trọng của sản xuất nông nghiệp.
Ngay từ xa xưa ông cha ta đã coi nông nghiệp là rất quan trọng, không gì có thể thay thế được. Bằng các hình thức diễn xướng giản đơn mộc mạc, thông qua hình thức kén rể của cô gái, rất nhiều chàng trai giàu có đẹp trai ướm hỏi nhưng cô gái đều từ chối và chỉ chấp thuận lấy anh nông dân vừa xấu xí vừa nghèo khó. Qua đó toát lên tính quan trọng của nghề nông và chỉ có nông nghiệp mới nuôi sống được con người. Đây là nghi lễ cầu mùa độc đáo.
Những trò diễn gắn với nhân vật Sơn Tinh ở tiểu vùng văn hóa Phú Thọ được diễn ra dưới nhiều dạng thức khác nhau: Sơn Tinh giúp dân trị thủy, làm ra lửa, dạy dân đánh cá, đi săn, Sơn Tinh đánh Thục, đám cưới của Sơn Tinh - Ngọc Hoa,. đã thể hiện sự kết dính thành tổng thể nhiều tầng lớp văn 14 hóa của các thời đại. Nổi bật hơn cả trong những trò diễn liên quan tới nhân vật Sơn Tinh là tình tiết liên quan đến vấn để trị thủy ở lưu vực sông Hồng (trong đó sông Đà ở chân núi Tản là con sông hung hãn nhất, có lưu lượng nước lớn trong mùa mưa). Nhưng bên cạnh những nội dung ấy, lại có những biểu hiện liên quan đến tục lệ hôn nhân thời cổ như cướp vợ và nhiều phong tục tập quán khác.
Như vậy có nhiều quan niệm khác nhau về trò diễn, nhưng trong phạm vi của luận văn gắn với lễ hội đền Thượng, xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tác giả xin đưa ra cách phân loại trò diễn bao gồm: trò diễn nghi lễ và trò diễn vui hội. Trò diễn nghi lễ được tái hiện một cách độc đáo thông qua trò diễn giảng sự tích, trò diễn thông hành tịnh chuỳ, trò nấu cỗ dâng đức thánh… Trò diễn vui hội thể hiện qua hát giao duyên dưới thuyền. Trò chơi dân gian 1. Khái niệm về trò chơi Trò chơi dân gian là những trò chơi được sáng tạo, lưu truyền tự nhiên, rộng rãi từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang đậm bản sắc văn hóa dân gian.
Nó được kết thành từ quá trình lao động và sinh hoạt, trong đó nó tích tụ cả trí tuệ và niềm vui sống của bao thế hệ người Việt xưa. Trò chơi dân gian là một bộ phận quan trọng và độc đáo trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. Nó phản ánh quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, chứa đựng những ý tưởng thẩm mỹ mang đậm dấu ấn, sắc thái của quá trình lịch sử tộc người, địa phương, vùng văn hóa. Không chỉ thăng hoa lên tầng ý nghĩa nhân văn, trò chơi dân gian còn thiết thực với đời sống tinh thẩn, thể chất của mỗi con người, mỗi cộng đồng trong chu trình sinh sống đời thường.
15 Trò chơi dân gian là những trò chơi được cộng đồng dân chúng xây dựng và sáng tạo nên, thuộc sở hữu của toàn dân, thường là sự mô phỏng các hoạt động lao động, sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, được lưu truyền rộng rãi qua nhiều thế hệ, chủ yếu bằng hình thức truyền miệng. Còn trò chơi hiện đại tuy cũng đáp ứng nhu cầu vui chơi, rèn luyện và học tập của mọi người nhưng lại do một người hoặc một nhóm người xây dựng, sáng tạo nên và cách chơi thường được tự động hóa, mã hóa [21, tr. Trò chơi dân gian góp phần hình thành nên ý chí kiên cường, sự dẻo dai và ý thức vươn lên giành chiến thắng của mỗi con người, mỗi cộng đồng và tạo nên bản sắc riêng của từng vùng miền, xứ sở. Trò chơi dân gian được hiểu là toàn bộ những hình thức trò chơi bao gồm các cách thức - phương tiện - văn cảnh do nhân dân sáng tạo nên trong lịch sử, được lưu truyền cho đến ngày nay và trở thành một bộ phận quan trọng trong kho tàng di sản các cộng đồng văn hóa khác nhau cũng như đã trở thành giá trị chung của nhân loại [7, tr.
Từ những khái niệm trên, có thể khẳng định trò chơi dân gian là sản phẩm xuất phát từ lao động sản xuất, mang tính tập thể, tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết trong nhân dân, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và được lưu truyền bằng miệng, truyền kĩ năng, kĩ thuật chơi, được trình diễn, thi đấu.