Luận văn: Phân tích nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Võ Diệu Thanh

Luận văn thạc sĩ phân tích nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Võ Diệu Thanh: điểm nhìn, kết cấu, không gian, thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Điểm nhìn trần thuật Nền tảng của nghệ thuật kể chuyện Võ Diệu Thanh

Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng nhất định hình phong cách sáng tác của Võ Diệu Thanh. Thông qua việc sử dụng linh hoạt các góc nhìn khác nhau, nhà văn tạo ra những mạch truyện có chiều sâu và sức thuyết phục cao. Cách tiếp cận này cho phép khám phá thế giới tinh thần nhân vật một cách toàn diện, từ những xung đột nội tâm đến những phát triển tâm lí phức tạp. Võ Diệu Thanh không dừng lại ở điểm nhìn bên ngoài khách quan mà còn đi sâu vào thế giới nội tâm của từng nhân vật, tạo nên những tầng lớp ý nghĩa đa chiều. Kỹ thuật phối hợp các điểm nhìn này cho thấy sự trưởng thành trong tư duy nghệ thuật của người viết.

1.1. Điểm nhìn bên ngoài và khách quan hóa mạch trần thuật

Điểm nhìn khách quan trong truyện ngắn Võ Diệu Thanh giúp khách quan hóa mạch trần thuật, cho phép độc giả thấy rõ ràng những sự kiện và tình huống. Phương pháp này tạo ra cảm giác trung lập nhưng vẫn giữ được sức hấp dẫn của câu chuyện. Nhà văn sử dụng ngôn ngữ mô tả chi tiết để vẽ nên bối cảnh, nhân vật và hành động, giúp xây dựng một thế giới hư cấu sống động.

1.2. Khám phá thế giới tinh thần thông qua điểm nhìn bên trong

Điểm nhìn bên trong là chìa khóa để khám phá thế giới tinh thần nhân vật. Võ Diệu Thanh sử dụng độc thoại nội tâmluồng ý thức để đưa độc giả vào những góc khuất của tâm hồn nhân vật. Qua đó, những mặc cảm, nỗi sợ hãihy vọng ẩn sâu được bộc lộ một cách tự nhiên, xây dựng nhân vật ba chiều với độ thuyết phục cao.

II. Kết cấu truyện và không gian thời gian Sự dịch chuyển giữa các tầng ý thức

Kết cấu truyện ngắn của Võ Diệu Thanh không theo lối tuyến tính thông thường mà sử dụng những kỹ thuật cấu trúc đa dạng như kết cấu tâm lítruyện lồng truyện. Những khoảng trống trong văn bản không phải là thiếu sót mà là chiến lược nghệ thuật để kích thích trí tưởng tượng của độc giả. Không gian sông nước miền Tây Nam Bộ trở thành nhân vật sống động, phản ánh tâm trạng nội tâm của những con người sống trong nó. Thời gian tâm trạng thường được ưu tiên hơn thời gian lịch sử, tạo ra cảm giác lan man và chủ quan trong cách kể chuyện. Những hồi ức và kỉ niệm được khéo léo chèn vào hiện tại, dệt nên bức tranh cuộc đời phức tạp.

2.1. Kết cấu tâm lí và những khoảng trống của thế giới hiện tồn

Kết cấu tâm lí trong truyện ngắn Võ Diệu Thanh phản ánh sự biến động nội tâm của nhân vật hơn là trình tự sự kiện logic. Những khoảng trống được để lại không phải vô ý mà để độc giả tự hoàn thành ý nghĩa. Cách tiếp cận này tạo ra tương tác giữa tác giả và độc giả, làm cho mỗi lần đọc là một trải nghiệm độc đáo.

2.2. Không gian sông nước và thời gian trong hồi ức

Không gian sông nước miền Nam không chỉ là phông cảnh mà còn là biểu tượng của cuộc sốngsố phận con người. Thời gian trong hồi ức được xử lí nhuần nhuyễn, giúp bày tỏ những cảm xúc sâu thẳm về quá khứ. Sự lồng ghép giữa hiện tại và quá khứ tạo ra chiều sâu tâm lí cho tác phẩm.

III. Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật Biểu hiện của tính đa dạng sáng tạo

Ngôn ngữ trần thuật Võ Diệu Thanh được xây dựng trên nền tảng độc thoại nội tâm phong phú, từ ý thức đến vô thức. Từ độc thoại nội tâm được sắp xếp logic để bộc lộ tư tưởng tự do của nhân vật. Giọng điệu trần thuật của nhà văn mang tính chất đa chiều, dao động giữa sự trữ tình, đằm thắmsuy tư triết lí. Những lựa chọn từ ngữ tinh tếcách diễn đạt độc đáo giúp xác lập quyền năng chủ thể trong mạch kể chuyện. Giọng điệu thương cảm, xót xa của nhà văn tạo khoảng cách gần gũi với độc giả, khiến những chi tiết nhỏ bé trở thành những câu chuyện đắt giá.

3.1. Độc thoại nội tâm từ ý thức đến vô thức

Độc thoại nội tâm trong tác phẩm Võ Diệu Thanh được phân tầng tinh tế, từ những suy nghĩ tỉnh táo đến những phản xạ vô thức của nhân vật. Kỹ thuật này tái hiện sự phức tạp của tâm lí con người một cách gần gũi và thuyết phục. Lối độc thoại đa chiều không chỉ bộc lộ nội tâm mà còn xác lập vai trò của chủ thể trong mục đích sáng tạo.

3.2. Giọng điệu trữ tình triết lý và thương cảm

Giọng điệu trữ tình, đằm thắm của Võ Diệu Thanh tạo không khí nội tâm cho tác phẩm, gây cảm xúc mạnh mẽ với độc giả. Giọng điệu triết lý, suy tư giúp nâng tầm ý nghĩa của câu chuyện lên mức độ phổ quát về nhân sinh. Giọng điệu thương cảm, xót xacon dấu riêng của nhà văn, biểu hiện lòng yêu thương đối với các nhân vật.

IV. Xây dựng nhân vật Những con người với mặc cảm tâm linh và sự cam chịu

Xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Võ Diệu Thanh phản ánh sự toàn diện về nhân bản học trong tư tưởng sáng tác. Nhân vật mang mặc cảm của nhà văn không phải là những kẻ yếu đuối đơn chiều mà là những người chứa đựng những mâu thuẫn nội tâm sâu sắc. Nhân vật tâm linh trong tác phẩm thường tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống qua những trải nghiệm tâm lí hoặc tâm thần. Nhân vật cam chịu biểu tượng cho những con người bình thường chấp nhận số phận nhưng vẫn duy trì nhân tính cao quí. Phương pháp này giúp tái hiện các cách sống khác nhau của con người, từ đó khơi gợi sự đồng cảm sâu sắc với độc giả.

4.1. Nhân vật mang mặc cảm Những xung đột nội tâm sâu thẳm

Nhân vật mang mặc cảm của Võ Diệu Thanh được xây dựng với độ phức tạp cao, thường chịu ảnh hưởng của những sự kiện quá khứ. Những mâu thuẫn nội tâm của họ được bộc lộ qua những hành động, độc thoại hoặc suy nghĩ một cách tự nhiên và thuyết phục. Cách tiếp cận này humanize nhân vật, khiến độc giả cảm thông với những điểm yếu của họ.

4.2. Nhân vật tâm linh và cam chịu Biểu tượng của nhân tính cao quí

Nhân vật tâm linh trong tác phẩm Võ Diệu Thanh thường sở hữu một loại uy lực tinh thần vượt quá những khó khăn vật chất. Nhân vật cam chịu không mang tính tiêu cực mà là biểu hiện của sức chịu đựng và lòng từ bi. Cả hai loại nhân vật này thể hiện những giá trị nhân sinh sâu sắc mà nhà văn muốn truyền tải đến độc giả.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT VÀ XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ DIỆU THANH 1. Điểm nhìn trần thuật Trong cấu trúc của truyện kể, điểm nhìn là một phương diện cơ bản của nghệ thuật trần thuật, là “Sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn” [26; tr. Điểm nhìn nhằm xác định vị trí, là xuất phát điểm mà từ đó chủ thể trần thuật quan sát, diễn giải, các sự kiện, tình tiết trong tác phẩm.

Việc tổ chức điểm nhìn trần thuật ở mỗi tác phẩm thể hiện dụng ý nghệ thuật và tư tưởng, được coi là “một nhân tố bộc lộ kĩ thuật” và “tay nghề” [26; tr. Do đó, tìm hiểu cách thức, tổ chức điểm nhìn trần thuật không chỉ nhận diện các tiêu cự nhìn và ngôi kể mà còn hướng tới tri nhận tư duy sáng tạo của chủ thể thẩm mĩ trong khám phá chiều sâu hiện thực. Khảo sát truyện ngắn của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy nhà văn đã sử dụng khá linh hoạt nhiều điểm nhìn trượt trên các tiêu cự và trường nhìn khác nhau để vừa tri nhận hiện thực đời sống, vừa khám phá chiều sâu nội tâm nhân vật, mang đến nhiều nấc thang giá trị cho bản mệnh văn chương. Điểm nhìn bên ngoài, khách quan hóa mạch trần thuật Với việc xác lập các hình thái điểm nhìn bên ngoài, chủ thể sáng tạo vừa tạo ra một sự giãn cách nhất định với đối tượng được trần thuật, lại vừa phản ánh trực tiếp mọi diễn biến, theo sát tình tiết xảy ra với nhân vật.

Có thể hiểu là “điểm nhìn bên ngoài, người kể trần thuật, miêu tả sự vật từ phía bên ngoài nhân vật, kể những điều nhân vật không biết” [15; tr. Từ đó, nhà văn đặt góc nhìn bên ngoài đối tượng đã làm cho mạch trần thuật trong truyện kể trở nên khách quan hơn, người kể chuyện chỉ đóng vai trò là người chứng kiến, quan sát và tất nhiên câu chuyện được kể theo điểm nhìn của anh ta. Khảo sát truyện ngắn của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy tác giả sử dụng điểm nhìn bên ngoài với ngôi thứ ba bao quát hết thảy mọi diễn biến của truyện kể. Trong Người đàn bà đa tình, người kể chuyện đưa người đọc lần theo cuộc đời của nhân 8 vật mợ Thị, là đứa trẻ mồ côi từ khi lên tám được người chú Ba cưu mang cả hai chị em khôn lớn.

Mười tám đôi mươi đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp trong vùng, chị nhận được lời yêu thương của một chàng trai và mong ước nên duyên vợ chồng. Nhưng khổ một nỗi “thương cháu mà gây thù với chú”, thế là người chú đã cấm cản, họ không đến được với nhau “Mợ bỏ người trai đó theo chú về nhà” [34; tr. Chị đành ngậm ngùi chia tay mối tình đầu của mình cũng bởi lẽ không muốn thằng em trai bơ vơ không có chỗ nương tựa. Và rồi sóng gió mới thực sự ập đến, kể từ khi cậu Thị bước chân vào cuộc đời đã từng lỡ làng của cô.

Cậu Thị si tình trước sắc đẹp vẫn làm say đắm biết bao trái tim người đàn ông, cậu làm mọi cách để chinh phục mợ bằng mọi giá: “Cậu Thị là công tử. Một lần đi chơi nhìn thấy người con gái tóc cột buông dài, vo quần tới gối, băm chuối, quét nhà, rửa chuồng heo… Chọc ghẹo cỡ nào mợ cũng không cười. Vậy mà cậu say la đà. Mợ nói mợ đã có một đời chồng nhắm thương được không” [34; tr.

Những cơn ghen tuông dày vò khiến mợ không được đi đâu ra ngoài, cuộc sống là những chuỗi ngày quẩn quanh bên khu vườn với việc đốt lá lấy tro bán làm phân bón: “Mợ Thị mỗi ngày sàng vài chục đống tro. Tro bu đầy hàng chục hàng mày, hàng mi mướt xanh của mợ. Mắt xanh mi bạc. Không làm mợ già đi, xấu đi, chỉ thấy ngộ” [34; tr.

Không chỉ lo từng bữa ăn cho gia đình mà còn gánh chịu những hành động vũ phu của người chồng ngay cả lúc mợ đang bụng mang dạ chửa: “Cậu Thị không hay vụ mợ xỉu cũng không hay chuyện thai nghén. Một bữa đá gà thua về ghé nhà người bạn nhậu xác con gà. Xế chiều tới nhà biểu mợ dọn cơm. Mợ đang tắm cho thằng Quệnh ở nhà dưới nói chờ mặc đồ cho thằng nhỏ xong cái đã, không thôi nó lạnh (…) Cậu đá một cái mợ rớt từ sàn nước xuống đất.

Cậu Thị bỏ mợ đó, đi kiếm người nhậu tiếp” [34; tr. Cậu Thị lao đầu như con thiêu thân vào những xới gà đen đỏ và đẩy vợ con vào cảnh nợ nần: “Mấy chục công đất cha mẹ để lại bay theo những cú nhảy vọt máu” [34; tr.22] và đã từng tuyên bố “Thà bỏ vợ chớ không bỏ mấy chú gà trống” [34; tr. Thật oái oăm thay, Đĩnh chàng trai láng giềng hiền lành, siêng năng lại đem lòng yêu thầm mợ Thị mà suýt nữa đã làm một việc táo tơn là rủ mợ cùng chạy trốn khỏi nơi này: “Tình yêu nó chen lọt chỗ nào? Mà rõ ràng đám lá khô này xay ra lại có màu xanh. Màu xanh ở đâu ra.

Cái thứ lá kì cục quá ta. Phải xay nhừ ra, nát bấy hết mới biết thật ra nó như thế nào” [34; tr. Việc xử lí điểm nhìn ngoại quan, chủ thể trần thuật không can dự trực tiếp mà chỉ đứng ngoài quan sát, dõi theo, chứng kiến những biến cố xảy đến cuộc đời 9 nhân vật, diễn giải cho mọi hành động của nhân vật, đem đến khách quan và gieo niềm tin nơi bạn đọc. Từ điểm nhìn bên ngoài, ở truyện Cô con gái ngỗ ngược, người kể chuyện kể lại những lời nói, cử chỉ, việc làm… của nhân vật Trúc.

Người kể không quá đi sâu vào miêu tả chi tiết tâm lý, suy nghĩ của nhân vật mà chỉ đứng ngoài quan sát khách quan và công tâm, kể về những thay đổi về tính cách và hành động nhân vật. Cô vốn là người con gái duy nhất trong một gia đình khá giả, sống với người cha là thương gia giàu có, mọi tình thương cũng như điều kiện về học tập đều dành cho cô. Sau bảy năm học tập ở trường Đại học y khoa, ra trường mới khoác áo blu tập sự được một năm, niềm mong ước của nhiều người, cô chạy ào về nói với ba “con muốn học ngữ văn” [30; tr. Cô chạy theo đam mê văn chương của mình như con thiêu thân mà đánh mất đi tình yêu thương của người cha.

Người cha dù can ngăn, khuyên bảo nhưng cô vẫn không từ bỏ lý tưởng của mình. Đến nỗi ông phải thốt lên: “ông tiếc là mình đã sanh một đứa con ngu muội. Rồi nó chết trong sự dại dột của nó” [30; tr. Mỗi người chọn cho mình cách sống, cách nghĩ riêng , dù dày dạn thương trường, nhận thấy người con gái mình yêu thương nhất dần tuột khỏi tầm tay và thân hình ngày một: “mỏng như sợi ánh sáng giữa quầng sáng của mấy bóng chữ u”.

Qua lời kể của Nhã, người bạn thân của ông, cô con gái đã vào vai một cô gái điếm: “Y như anh nghe một cô gái giang hồ kể chuyện, nghe mà đứt ruột” [30;tr.36] làm chất liệu cho công việc sáng tác: “đang nung nấu đề tài thân phận những cô gái phải bán mình để sống” [30; tr. Thế nhưng, khi nghe tin cha bị tai nạn, Trúc sẵn sàng truyền máu để cứu cha, bất chấp nguy hiểm do cơ thể quá yếu ớt: “Chị nói với ông Nhã hãy gọi gấp bác sĩ, chị cùng nhóm máu với ba. Nhã nói sức chị như vầy cho máu nguy hiểm lắm. Nguy hiểm cũng phải cứu, bằng mọi giá cũng phải cứu cho bằng được ba.

Bác sĩ nói nếu phải suy tính đổi mạng thì ai lại đổi mạng một nhà văn trẻ cho một người già” [30; tr. Chủ thể trần thuật thông qua việc kể lại lời nói, cử chỉ nhân vật nhằm khắc họa rõ nét tính cách của nhân vật Trúc, tiêu biểu cho quan niệm sống của tuổi trẻ Nam Bộ, dám dấn thân, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão. Đọc truyện Uống lại những cơn say, ta nhận thấy nhà văn khéo léo sử dụng điểm nhìn bên ngoài men theo những thay đổi tâm lí của nhân vật Tuội. Anh là một họa sĩ nghèo từng mang theo nhiều ước mơ, hoài bão nhưng gánh nặng cơm áo lo toan đã khiến 10 anh rơi vào rượu chè bê tha, triền miên trong cơn say, bỏ rơi Nâu - người vợ mình yêu thương quyết định bỏ lên thành phố lập nghiệp với mục đích đổi đời: “Anh không thể quên được địa ngục đó.

Má nói đã lựa cho anh con vợ đẹp nhứt xứ. Nhưng anh thấy vợ mình thua con nhỏ bán bia ôm” [31; tr. Thế nhưng, vụ tai nạn giao thông đã cướp đi của Tuội cả hình hài lẫn ước mơ một thời, giờ anh không dám gặp người thân nữa và cũng có người vợ mới: “Sau tai nạn, trong anh như có một cuộc cách mạng. Tâm tính anh khác đi.

Vóc dáng đổi thay. Anh mập hơn những ngày còn ở nhà một khối lượng không hình dung được, da sần sùi, đen như than” [31; tr. Thời gian trôi qua nỗi nhớ về Nâu, nhớ cha mẹ, tình yêu quê hương cồn cào luôn ray rứt, giằng xé như thôi thúc anh trở về quê nhà: “Sau một giấc ngủ con người của quá khứ thường tìm về (…) Ông muốn nói với má, với Nâu “anh về rồi” “con về rồi”. Nhưng ông không nói được…” [31; tr.

Điều trớ trêu thay, sau bao năm xa xứ không ai còn nhận ra Tuội nữa bởi nhân hình đã biến dạng sau vụ tai nạn ngay cả cha mẹ và Nâu. Ngày ngày sống như một người láng giềng bên gia đình Nâu và cha mẹ anh vẫn được một tay cô chăm sóc chu đáo. Dường như có cả nỗi ân hận, khổ nhất là tình cảm với người vợ cũ không thôi nguôi ngoai, tình yêu vẫn vẹn nguyên như ngày nào: “Ông tự hỏi mình có nhẫn tâm khi kêu vợ là Chuột Xạ. Cái tên rất tình cờ (…) Một lần bỏ vợ, hối hận một đời.

Mà ông thì chỉ có một đời nên không còn chỗ để sai lầm tiếp diễn…” [31; tr. Chính nhờ góc nhìn khách quan, chân thực bên ngoài, gắn với ngôi kể thứ ba, người đọc như đồng cảm, sống cùng với tâm trạng xót xa, đau đớn của nhân vật Tuội, dẫu cả Tuội và Nâu cùng thương yêu nhau, nhớ nhung, hàng ngày gặp nhau lại không nhận ra nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ