Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Cơ sở ngôn ngữ học 1. Từ và ngữ a) Từ Từ trong tiếng Việt cũng giống như từ trong nhiều ngôn ngữ khác là đơn vị cơ bản và tồn tại sẵn có trong ngôn ngữ. Trong hệ thống các đơn vị của ngôn ngữ, từ được xem là đơn vị giữ vai trò trung tâm bởi đơn vị này có mối quan hệ rất mật thiết với các đơn vị khác trong cùng hệ thống,… Xuất phát từ mục đích, tiêu chí, phương diện khác nhau, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau về từ.
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật và Nguyễn Minh Thuyết trong công trình “Dẫn luận ngôn ngữ học” quan niệm “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về hình thức và ý nghĩa” [14, tr. Tác giả Đỗ Hữu Châu trong công trình “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt” đã nhận định: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống,…) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [9, tr. Qua những quan niệm khác nhau về từ nói trên cho thấy quan niệm về từ chưa có sự thống nhất tuy nhiên các tác giả đều có chung nhận định về một số đặc điểm cơ bản của từ tiếng Việt như sau: Thứ nhất, đó là tính bất biến về hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt. Các thành phần trong từ (thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo, thành phần ý nghĩa) không độc lập đối lập nhau mà quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau thành một thể gọi là từ.
Thứ hai, trong các thành phần của từ - trừ thành phần ngữ âm - không phải riêng của từ thì các thành phần như: cấu tạo, ngữ pháp và ý nghĩa xuất hiện 5 trong từ này cũng như có thể xuất hiện trong một số từ khác. Hay, các thành phần cấu tạo, ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ có tính đồng loạt chứ không phải có tính riêng biệt. - Từ xét về cấu tạo: Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ” [9, tr.26], để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ, phục vụ những nhu cầu mới về mặt diễn đạt của ngôn ngữ. Các yếu tố và hình thức cấu tạo từ gồm: yếu tố cấu tạo từ, đơn vị cấu tạo từ, phương thức tạo từ.
Yếu tố cấu tạo từ là “những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất - tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa - được dùng để cấu tạo các từ theo phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt” [11, tr. Phương thức cấu tạo từ “là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ” [11, tr. Tiếng Việt sử dụng ba hình thức tạo từ: từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị. Từ hóa hình vị là phương thức tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó.
Chẳng hạn: những từ như: ông, bà, chị, nhà, xe, áo, hoa, trời, mây,… là những từ hình thành do từ hóa các hình vị ông, bà, chị, nhà, xe, áo, hoa, trời, mây,… Ghép hình vị là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới. Chẳng hạn: phương thức ghép tác động vào các hình vị phi và thuyền cho từ phi thuyền,… Láy hình vị là phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh. Chẳng hạn, phương thức láy tác động vào hình vị đỏ cho ta hình vị láy đo làm thành từ đo đỏ. Các kiểu từ xét theo cấu tạo gồm: từ đơn, từ ghép và từ láy.
+ “Từ đơn là những từ một hình vị. Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ 6 nghĩa của từng từ riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” [9, tr.
Căn cứ vào số lượng âm tiết sẽ có (từ đơn đơn âm và từ đơn đa âm). Từ đơn đơn âm như: ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, thầy, cô, mèo, chuột, trâu, hổ, hoa, lá, lúa, khoai, bút, vở, phấn, xe, nhà, trường, sông, núi, gió, mưa, Bắc, Nam, rồng, tiên,… Từ đơn đa âm như: ô - tô, Xu - ka, Đô - rê - mon, Nô - bi - ta, ti - vi, wu - shu, ghi - ta, rô - bốt,… + Từ ghép là những từ được cấu tạo theo phương thức ghép, “được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau” [9, tr. Các loại từ ghép chia theo kiểu ngữ nghĩa của từng loại gồm: Từ ghép phân nghĩa “là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng những loại độc lập đối với nhau, và độc lập với loại lớn. Các từ ghép phân nghĩa lập thành những hệ thống gồm một số từ thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn” [9, tr.
Từ ghép hợp nghĩa “là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa. Các từ ghép này không biểu thị những loại (sự vật, hiện tượng, tính chất,…) nhỏ hơn, trái lại chúng biểu thị những loại rộng hơn, lớn hơn, bao trùm hơn so với các loại từng hình vị tách riêng” [11, tr. + Từ láy “là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (…) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [9, tr. - Từ xét về mặt từ loại: Từ loại chính là lớp từ được phân chia ra trong một ngôn ngữ dựa trên ý nghĩa khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của chúng.
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, từ loại tiếng Việt gồm 9 loại: danh từ, vị từ, quán từ, lượng từ, đại từ, liên từ, giới từ, trợ từ, thán từ. Trong đó: danh từ: “là những biểu thị sự vật, hiện tượng và khái niệm” [15, tr. Danh từ được chia 7 thành danh từ chung và danh từ riêng. Danh từ chung lại được chia thành danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp.
Danh từ tổng hợp là những danh từ “chỉ gộp một tổng thể sự vật, chất liệu có đặc điểm chung nào đó” [21, tr. Chẳng hạn: ông bà, thầy cô, bố mẹ, nhà cửa, núi sông, nắng mưa, giày dép, mũ nón, xe cộ, tre nứa, cá tôm, … Danh từ không tổng hợp gồm “danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ sự vật, danh từ chỉ chất liệu và danh từ chỉ sự vật trừu tượng” [21, tr. Chẳng hạn: cái, con, chiếc, tờ, tấm, cục, hòn, thầy, cô, em, chị, cá, tôm, lúa, phượng, bút, sách, mây, trời, đất, đá, nước, bùn, vôi, hi vọng, niềm tin, tâm hồn, tự do,… b) Ngữ Xét theo quan hệ của các đơn vị trong cụm từ, Diệp Quang Ban chia cụm từ thành ba loại: cụm từ tự do, cụm từ cố định và ngữ (cụm từ nửa cố định). Theo tác giả Diệp Quang Ban, cụm từ tự do là “những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp “tự do” với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này” [3, tr.
Ví dụ: sẽ học tốt hơn, đừng nói chuyện nữa… Cụm từ cố định là “những kiến trúc cho sẵn gồm hai từ trở lên, có tính bền vững về từ vựng và ngữ pháp” [3, tr. Ví dụ: cưỡi ngựa xem hoa, nước đổ lá khoai,… Như vậy, ngữ là một trong ba tổ hợp từ thuộc cụm từ - đơn vị lớn hơn từ. Khi xét các quan hệ giữa các bộ phận trong cụm từ, ngữ là tổ hợp từ thường có quan hệ chính phụ. Tức là, trong ngữ từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính.
Các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ. Quan hệ của ngữ khác với quan hệ của các tổ hợp từ khác cũng thuộc cụm từ như tổ hợp từ có quan hệ bình đẳng, tổ hợp từ có quan hệ chủ vị. Ví dụ: cái bàn này, chim hót… - Ngữ xét về cấu tạo: Ngữ có cấu tạo gồm: thành tố chính và thành tố phụ. Thành tố chính là “thành tố giữ vai trò quan trọng về ngữ pháp đối với cụm từ” [3, tr.
Các từ có thể làm thành tố chính của ngữ như: danh từ, động từ, tính từ, số từ và đại từ. Thành tố phụ là thành tố giữ vai trò điều kiện cần để tồn tại 8 ngữ. Thành tố phụ có các đặc điểm như: về vị trí thành tố phụ có thể đứng trước hoặc đứng sau thành tố chính trong ngữ; về từ loại các từ làm thành tố phụ trong các ngữ có thể thuộc lớp từ có tính chất hư, cũng có thể thuộc lớp từ thực hoàn toàn. - Ngữ xét về mặt từ loại: Ngữ thường được gọi theo từ loại của thành tố chính trong ngữ.
Theo tác giả Diệp Quang Ban, ngữ được chia ra thành: (1) Ngữ có danh từ làm thành tố chính, gọi là ngữ danh từ. Ví dụ: hai con thằn lằn con, chú mèo con, chú bộ đội, cô công nhân, tấm ảnh Bác Hồ,… (2) Ngữ có động từ làm thành tố chính, gọi là ngữ động từ. Ví dụ: đã đọc rồi, vừa đọc, đọc được,… (3) Ngữ có tính từ làm thành tố chính, gọi là ngữ tính từ. Ví dụ: tốt hơn, rất tốt, tốt quá,… (4) Ngữ có số từ làm thành tố chính, gọi là ngữ số từ.
Ví dụ: hơn ba mươi một chút, độ ba mươi, ba mươi hơn,… (5) Ngữ có đại từ làm thành tố chính, gọi là ngữ đại từ. Ví dụ: tất cả chúng ta đây, hai chúng tôi, hai đứa mình,… c.