PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trẻ em là thế hệ tương lai của một quốc gia, vì vậy trong bất kì chế độ xã hội nào thì công tác chăm sóc giáo dục trẻ em luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội. Ở nước ta, công tác này không chỉ được tuyên truyền sâu rộng nhằm khuyến khích thực hiện, mà còn được thể chế hóa thành luật, qui định rõ quyền và nghĩa vụ của từng đối tượng có liên quan. Điều đó thể hiện sự ưu tiên trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta dành cho giáo dục nói chung và giáo dục trẻ em nói riêng.
Từ lúc lọt lòng cho đến 6 tuổi là một quãng đời có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung của trẻ em. Nhịp độ phát triển của trẻ trong thời kì này rất nhanh và nhịp độ phát triển như vậy không bao giờ còn thấy được trong những năm tháng về sau. Đồng thời, thành tựu phát triển mà trẻ đạt được trong những năm đầu đời có ý nghĩa rất lớn cho sự trưởng thành sau này của trẻ. Chính vì vậy, các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục đã luôn dành cho giai đoạn này sự quan tâm lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển về mọi mặt của trẻ, trong đó có vấn đề phát triển tư duy.
Hiện nay ở nước ta, riêng trong chuyên ngành tâm lý học trẻ em, có thể dễ dàng nhận thấy các công trình nghiên cứu về giai đoạn lứa tuổi này nhiều hơn bất kì giai đoạn nào khác, trong đó vấn đề tư duy cũng được đề cập đến. Nhưng nhìn chung, các nghiên cứu về tư duy trẻ em vẫn tập trung vào lứa tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi) hơn là giai đoạn trước đó (trẻ 1 – 3 tuổi). Điều này có lý do của nó, bởi lẽ tư duy trẻ em được bộc lộ rõ ràng và đạt những thành tựu phát triển cao trong giai đoạn từ 3 – 6 tuổi. Song không vì vậy mà có thể xem nhẹ sự phát triển tư duy của trẻ trong 3 năm đầu đời, bởi đây là thời gian đặt tiền đề cho sự hình thành tư duy, cũng như xuất hiện các hình thức tư duy đơn giản, làm nền tảng cho sự phát triển tư duy giai đoạn sau.
1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong thực tiễn chăm sóc và giáo dục trẻ em 1 – 3 tuổi hiện nay, mối quan tâm của các bậc cha mẹ thường thiên về phát triển thể chất cho trẻ hơn là phát triển tư duy. Và nếu có quan tâm đến việc phát triển tư duy cho trẻ thì các phương pháp được sử dụng cũng chưa có tính khoa học. Chẳng hạn, với mong muốn làm cho con thông minh ngay từ bé, khi trẻ tròn 1 tuổi, nhiều cha mẹ đã cho trẻ học chữ số, âm nhạc, ngoại ngữ. mà không chú trọng cho trẻ vui chơi, vận động và hành động với đồ vật.
Như vậy, cả về mặt lí luận và thực tiễn, có thể nói rằng vấn đề phát triển tư duy cho trẻ em giai đoạn ba năm đầu đời chưa được quan tâm đúng mực mà vẫn còn những khoảng trống nhất định. Đề tài “Tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ em từ 1 – 3 tuổi“ này được thực hiện với mong muốn góp phần bổ sung cho khoảng trống đó. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ em từ 1 – 3 tuổi trên địa bàn Tp Hà Nội. Trên cơ sở đó giúp các bậc phụ huynh, người chăm sóc có nhận thức đúng đắn về sự phát triển tư duy của trẻ.
Từ đó họ sẽ có hành động, biện pháp kích thích sự phát triển tư duy của trẻ một cách hợp lí, góp phần chăm sóc và giáo dục trẻ toàn diện. Nhiệm vụ nghiên cứu 3. Nhiệm vụ nghiên cứu lí luận Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về tư duy trẻ em nói chung và tư duy trẻ em giai đoạn 1 – 3 tuổi nói riêng: lịch sử nghiên cứu, khái niệm, đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn - Tìm hiểu thực trạng phát triển tư duy của 101 trẻ em độ tuổi 1 – 3 tuổi trên địa bàn Tp Hà Nội thông qua thang đo đánh giá sự phát triển tư duy trẻ em 1 – 3 tuổi.
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức, hành động của cha mẹ, xác định mối tương quan giữa sự phát triển tư duy của trẻ với nhận thức và hành động của cha mẹ trong chăm sóc, giáo dục vấn đề tư duy cho trẻ. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đề xuất những kiến nghị giúp cha mẹ và người chăm sóc phát triển tối đa khả năng tư duy của trẻ. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Đặc điểm tư duy của trẻ em từ 1 – 3 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Tp Hà Nội.
Khách thể nghiên cứu - 101 trẻ em 1 – 3 tuổi ở ba trường mầm non: Trường mầm non tư thục Hoa Thủy Tiên, Trường mầm non tư thục BabyStar và Trường mầm non công lập Mùa Xuân, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Tp Hà Nội. - 101 cha mẹ hoặc người chăm sóc các em. Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung tìm hiểu thực trạng phát triển tư duy của trẻ em từ 1 – 3 tuổi và sự ảnh hưởng của phương thức giáo dục của gia đình đến thực trạng phát triển đó. - Giới hạn thời gian và địa điểm nghiên cứu: + Thời gian: Từ tháng 01/2012 đến tháng 04/2013 + Địa điểm: Phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Tp Hà Nội 6.
Giả thuyết khoa học Tư duy trực quan – hành động của trẻ được chọn làm khách thể nghiên cứu phát triển ở mức độ cao hơn so với mức chuẩn thông thường. Có sự khác biệt về đặc điểm phát triển tư duy giữa các nhóm khách thể nghiên cứu (giữa nam và nữ, giữa trẻ học ở trường công lập và trẻ học ở trường tư thục). Cha mẹ trẻ có nhận thức và hành động tích cực trong chăm sóc và giáo dục để trẻ phát triển tư duy. Nhận thức và hành động của cha mẹcó ảnh hưởng trực tiếp đến thực trạng phát triển tư duy của trẻ.
Các phƣơng pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lí luận 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thu thập và phân tích tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để xây dựng phần cơ sở lí luận. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp quan sát: Dựa trên một thang đo được xây dựng để đánh giá khả năng vận động và tư duy của trẻ, chúng tôi thiết kế một bảng quan sátnhằmghi lạicác biểu hiện của trẻ trong quá trình trẻ thực hiện các nội dung (item) của thang đo. - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành đối với cha mẹ và người chăm sóc trẻ để tìm hiểu thực trạng nhận thức, hành động và khó khăn của cha mẹ trong quá trình chăm sóc, giáo dục để phát triển tư duy cho trẻ.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trò chuyện, trao đổi trực tiếp với cha mẹ, người chăm sóc, giáo viên của trẻ để thu thập thông tin ban đầu trợ giúp cho việc thiết kế thang đo, bảng hỏi và bảng quan sát trẻ; đồng thời tìm hiểu thêm ý kiến của cha mẹ sau khi đã thu lại bảng hỏi. - Phương pháp thống kê toán học: Dùng để xử lí số liệu điều tra thu được từ thang đo, bảng quan sát và bảng hỏi. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Tổng quan các nghiên cứu về tƣ duy trẻ em 1.
Những nghiên cứu vềtư duy trẻ em ở nước ngoài Đối với tâm lí học phát triển nói chung và lĩnh vực nghiên cứu tư duy trẻ em nói riêng, hai nhà tâm lí học có ảnh hưởng lớn nhất là J. “Dù Piaget và Vưgotxki là người cùng thời với nhau, quan điểm của hai ông lại đi theo hai hướng riêng biệt. Trong khi Piaget mô tả trẻ em như những nhàkhoa học tí hon chỉ một mình cố gắng tìm hiểu thế giới rộng lớn, Vưgotxki lại khắc họa chân dung chúng đang sống giữa những người khác mà những người này nhiệt tình giúp đỡ để trẻ học được những năng lực cần thiết nhằm thích nghi với nền văn hóa. Trong khi Piaget quan tâm đến nhiều khía cạnh của sự phát triển ở tất cả trẻ em thuộc mọi xã hội trong mọi giai đoạn lịch sử, Vưgotxki lại nhấn mạnh những nhân tố khác biệt giữa những trẻ em lớn lên ở những thời đại khác nhau trong các bối cảnh xã hội khác nhau” [22; tr17].
Hai cách tiếp cận này có thể bổ sung cho nhau, giúp tạo ra một cái nhìn tổng thể về lí luận và phương pháp nghiên cứu tư duy trẻ em. Sau đây là nội chung chính của từng cách tiếp cận. Jean Piaget (1896 – 1980) và học thuyết phát sinh nhận thức Tên tuổi của nhà tâm lý học Thụy Sĩđược biết đến trên toàn thế giới vì những cống hiến to lớn của ông cho nền tâm lý học và giáo dục học thế kỉ XX. Suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học miệt mài, J.
Piaget đã để lại một di sản khổng lồcác công trình nghiên cứu được ghi chép bằng số liệu tỉ mỉ và một kho tàng các tác phẩm nổi tiếng như “Ngôn ngữ và tư duy của trẻ” (1923), “Tâm lí học trí khôn” (1946), “Tâm lí học trẻ em” (1966)… Xuất phát từ cơ sở sinh học và logic học để xây dựng các khái niệm công cụ, đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu lâm sàng, trắc nghiệm và thực nghiệm, J.Piaget đã xây dựng nên học thuyết phát sinh nhận thức về sự phát triển tâm lí trẻ em cũng như tâm lí con người nói chung – một trong những hệ thống lý thuyết có ảnh hưởng nhất trong tâm lí học thế kỉ XX. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để hiểu được học thuyết của Piaget, chúng ta nên bắt đầu từ những luận điểm xuất phát và khái niệm công cụ của ông: Đồng hóa, Điều ứng, Sơ đồ và Cân bằng. Trước khi là nhà tâm lí học, J. Piaget đã là nhà sinh vật học và được trang bị kiến thức triết học, lôgic học và toán học.
Mọi giải thích của J. Piaget về sự phát sinh trí tuệ và tư duy trẻ em chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai lĩnh vực khoa học này. Piaget đã sử dụng 4 khái niệm gốc sinh học và logic học: Đồng hoá (Assimilation), Điều ứng (Accommodation), Sơ cấu hay Sơ đồ (Scheme) và Cân bằng (Equilibrum) để phân tích sự phát sinh và phát triển của trí tuệ trẻ em.