ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ TRỮ TÌNH MƯỜNG

Khám phá đặc điểm truyện thơ trữ tình Mường qua luận văn thạc sĩ văn học. Tìm hiểu nội dung, nghệ thuật và giá trị văn hóa đặc sắc của thể loại này.

Chuyên ngành

Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2008

227
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Truyện Thơ Trữ Tình Mường Khái Niệm Giá Trị 55 ký tự

Chương này phác thảo bức tranh tổng quan về người Mường và truyện thơ trữ tình Mường ở Việt Nam, tập trung vào bốn tác phẩm tiêu biểu. Tìm hiểu về quá trình hình thành dân tộc Mường và vị trí của văn học dân gian Mường trong đời sống văn hóa. Chương này giới thiệu các truyện thơ được chọn làm đối tượng nghiên cứu, đặt nền móng cho việc phân tích sâu hơn về nội dung và nghệ thuật trong các chương tiếp theo. Việc nghiên cứu này góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Mường, đồng thời làm phong phú thêm kho tàng văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam. Khám phá sâu sắc tính trữ tình trong truyện thơ Mường. Chú trọng vào việc phân tích, so sánh để làm nổi bật những nét độc đáo trong truyện thơ Mường.

1.1. Dân Tộc Mường Nguồn Gốc và Quá Trình Hình Thành

Người Mường và người Kinh có chung nguồn gốc từ người Lạc Việt thời Hùng Vương. Theo huyền thoại, Âu Cơ kết duyên với Long Vương sinh ra 100 con. 50 con theo mẹ lên núi sinh ra người Mường, 50 con theo cha xuống biển sinh ra người Kinh. GS. Keith Weller Taylor nhận định, huyền thoại này thể hiện ý thức tự ý thức của người Việt. Dân tộc Mường cư trú từ Tây Hoàng Liên Sơn đến Thanh Hóa, Nghệ An. Họ là cư dân nông nghiệp vùng bán sơn địa, có cuộc sống giản dị, thiết thực. "Giản dị mà không đơn sơ, thiết thực nhưng không thực dụng, rõ ràng khúc chiết nhưng không thô thiển, chất phác mà không nông cạn" [83].

1.2. Văn Học Dân Gian Mường Truyện Thơ Trữ Tình và Vị Trí

Văn học dân gian Mường là một mảng rất rộng, bao trùm tất cả các giá trị cổ xưa của tộc người Mường. Truyện thơ là loại hình văn học truyền miệng rất phổ biến trong nền VHDG các dân tộc ở Việt Nam và cả ở Đông Nam Á. Truyện thơ chứa đựng những giá trị văn hóa lớn, những vấn đề đặc trưng của một dân tộc. Hiện nay việc giữ gìn, phát huy những di sản văn hóa, văn học, đặc biệt là thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số đang đặt ra nhiều vấn đề cho ngành folklore học Việt Nam.

II. Thách Thức Bảo Tồn Văn Hóa Mường Nguy Cơ Mai Một 56 ký tự

Vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc Mường có phần khác biệt so với các dân tộc thiểu số khác trên đất Việt Nam. Người Mường vốn chung huyết thống, ngôn ngữ, văn hóa với người Việt. Sự tiến bộ và hiện đại hóa dễ làm mất đi bản sắc văn hóa Mường. Các giá trị văn hóa bản địa cần được bảo vệ và phát huy. Những biến đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội thời kỳ đổi mới đang gia tăng nguy cơ thất tán di sản văn học. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm truyện thơ trữ tình Mường là vô cùng cần thiết. Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần tìm hiểu thể loại truyện thơ Mường. Đồng thời, nó cũng góp phần tìm hiểu văn học và văn hóa của tộc người Mường nói riêng và các dân tộc ít người nói chung.

2.1. Ảnh Hưởng Của Toàn Cầu Hóa Đến Văn Hóa Mường

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc bảo tồn di sản văn hóa truyền thống là vấn đề chung của các dân tộc thiểu số. Làm thế nào để hội nhập mà không hòa tan? Làm thế nào để giữ gìn được những đặc trưng văn hóa của từng tộc người? Vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc Mường có phần khác biệt hơn so với các dân tộc thiểu số khác trên đất Việt Nam. Vì người Mường vốn chung huyết thống, ngôn ngữ, văn hóa… với người Việt ở thời cận đại.

2.2. Sự Mai Một Truyện Thơ Kinh Tế và Xã Hội Tác Động

Những biến đổi về kinh tế - văn hóa - xã hội thời kỳ đổi mới đang gia tăng gấp bội nguy cơ thất tán, mai một những sáng tạo văn học quý giá này. Đó là lý do khiến chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm truyện thơ trữ tình Mường” với mong muốn góp phần giữ gìn, phát huy di sản văn hóa truyện thơ của dân tộc Mường, cũng chính là làm giàu thêm vốn văn hóa truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam.

III. Phương Pháp Phân Tích Nội Dung Bức Tranh Xã Hội Mường 58 ký tự

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Phương pháp thống kê được dùng để xác định tần suất xuất hiện của các motif và biện pháp nghệ thuật. Phương pháp phân tích tổng hợp giúp đi sâu nghiên cứu từng khía cạnh trong bức tranh xã hội hiện thực Mường, sau đó khái quát lại. Phương pháp so sánh đối chiếu làm nổi bật bức tranh hiện thực xã hội Mường so với các dân tộc khác. Phương pháp văn hóa học dựa trên kiến thức về văn hóa để nghiên cứu văn học. Luận văn cố gắng xác định những đặc điểm cơ bản nhất của truyện thơ trữ tình Mường, cả về nội dung và nghệ thuật.

3.1. Thống Kê và Phân Tích Motif và Biện Pháp Nghệ Thuật

Tiến hành thao tác thống kê tần số xuất hiện: các môtip thường gặp, các con số, những biện pháp nghệ thuật… trong từng tác phẩm để thấy được giá trị của nó.

3.2. So Sánh và Đối Chiếu Tìm Ra Đặc Thù Văn Hóa Mường

Phương pháp so sánh - đối chiếu được vận dụng trong luận văn nhằm làm nổi bật bức tranh hiện thực xã hội Mường có điểm gì giống và khác với bối cảnh xã hội của các dân tộc khác. Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành so sánh về cốt truyện, các môtip và về phương diện ngôn ngữ trong TTTT Mường với TTTT các dân tộc khác, để từ đó tìm thấy đặc thù riêng của dân tộc Mường cũng như nét chung của các dân tộc thiểu số qua thể loại truyện thơ. Việc làm này cũng giúp phát hiện những giá trị nghệ thuật của TTTT Mường.

IV. Đặc Điểm Nội Dung Truyện Thơ Giá Trị Nhân Đạo Nhân Văn 59 ký tự

Truyện thơ trữ tình Mường phản ánh bức tranh hiện thực Mường. Ca ngợi xứ sở Mường giàu đẹp, trù phú. Phản ánh sự bóc lột, áp bức của chế độ lang đạo Mường. Phản ánh cuộc sống xa hoa của tầng lớp lang đạo Mường. Tố cáo tư tưởng trọng nam khinh nữ và quyền thế cha mẹ trong tình yêu con trẻ. Truyện thơ đậm giá trị nhân đạo, nhân văn. Ca ngợi những con người nhân ái và những mối tình cao đẹp. Giá trị văn hóa truyện thơ Mường cần được khai thác và bảo tồn. Truyện thơ là tiếng nói của tình yêu tự do.

4.1. Phản Ánh Hiện Thực Xã Hội Mường Bóc Lột và Bất Công

Truyện thơ trữ tình Mường phản ánh bức tranh hiện thực Mường. Ca ngợi xứ sở Mường giàu đẹp, trù phú. Phản ánh sự bóc lột, áp bức của chế độ lang đạo Mường. Phản ánh cuộc sống xa hoa của tầng lớp lang đạo Mường.

4.2. Giá Trị Nhân Văn Ca Ngợi Tình Yêu và Con Người Nhân Ái

Truyện thơ đậm giá trị nhân đạo, nhân văn. Ca ngợi những con người nhân ái và những mối tình cao đẹp. Giá trị văn hóa truyện thơ Mường cần được khai thác và bảo tồn. Truyện thơ là tiếng nói của tình yêu tự do.

V. Đặc Điểm Nghệ Thuật Cốt Truyện Nhân Vật và Ngôn Ngữ 58 ký tự

Cốt truyện truyện thơ trữ tình Mường có sự hình thành và mô hình riêng. Có nhiều motif thường gặp trong cốt truyện. Nhân vật truyện thơ đa dạng, đặc biệt là nhân vật nữ chính và nam chính. Ngôn ngữ truyện thơ sử dụng nhiều biện pháp tu từ nổi bật. Các dòng thơ chức năng và ý nghĩa các con số trong truyện thơ cũng được phân tích. Đặc điểm thi pháp truyện thơ Mường cũng được làm rõ trong chương này. Việc phân tích nghệ thuật giúp hiểu sâu hơn về giá trị của truyện thơ.

5.1. Cốt Truyện và Motif Đặc Trưng Của Truyện Thơ Mường

Cốt truyện truyện thơ trữ tình Mường có sự hình thành và mô hình riêng. Có nhiều motif thường gặp trong cốt truyện.

5.2. Nhân Vật và Ngôn Ngữ Biểu Hiện Tài Năng Dân Gian

Nhân vật truyện thơ đa dạng, đặc biệt là nhân vật nữ chính và nam chính. Ngôn ngữ truyện thơ sử dụng nhiều biện pháp tu từ nổi bật.

VI. Kết Luận Giá Trị và Tương Lai Nghiên Cứu Văn Hóa Mường 56 ký tự

Luận văn đã nghiên cứu sơ bộ về đặc điểm truyện thơ trữ tình Mường, qua 4 tác phẩm được yêu thích. Xác định những đặc điểm cơ bản nhất về nội dung và nghệ thuật. Góp phần nghiên cứu truyện thơ Mường trong sự đối sánh với truyện thơ các dân tộc khác. Nghiên cứu này mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về văn hóa Mường. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Mường. Nghiên cứu truyện thơ Mường có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn văn hóa.

6.1. Tổng Kết Nghiên Cứu Đặc Điểm Nổi Bật Truyện Thơ

Luận văn đã nghiên cứu sơ bộ về đặc điểm truyện thơ trữ tình Mường, qua 4 tác phẩm được yêu thích. Xác định những đặc điểm cơ bản nhất về nội dung và nghệ thuật.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Bảo Tồn Văn Hóa Mường

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyện thơ Mường. Nghiên cứu truyện thơ Mường có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn văn hóa và di sản văn hóa dân tộc.

13/05/2025
Đặc điểm truyện thơ trữ tình mường

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về tộc người Mường và truyện thơ trữ tình Mường. Đặc điểm nội dung của truyện thơ trữ tình Mường. Đặc điểm nghệ thuật của truyện thơ trữ tình Mường.

Ngoài ra còn có Thư mục tham khảo và 4 phần phụ lục sau: Phụ lục 1. Bảng tổng hợp các môtip xuất hiện trong truyện thơ trữ tình Mường. Bảng thống kê tần số xuất hiện của biện pháp nghệ thuật so sánh trong truyện thơ trữ tình Mường. Bảng thống kê tần số xuất hiện của biện pháp điệp ngữ trong truyện thơ trữ tình Mường.

Một số đoạn thơ tiêu biểu của truyện thơ trữ tình Mường. TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI MƯỜNG VÀ TRUYỆN THƠ TRỮ TÌNH MƯỜNG Mục đích của chương này là phác qua một cái nhìn tổng quát về người Mường ở Việt Nam và bộ phận TTTT Mường trong đó có bốn truyện thơ mà luận văn chọn làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp.Vài nét về tộc người Mường: 1. Quá trình hình thành dân tộc Mường. Huyền thoại khởi nguyên luận của người Việt Nam là truyền thuyết “Con Rồng - cháu Tiên”, “Con Lạc cháu Hồng” được ghi lại lần đầu tiên thành truyện họ Hồng Bàng trong sách “Lĩnh Nam chích quái”.

Theo huyền thoại này: Mẹ Tiên Âu (Âu Cơ) là tiên trên núi xuống đã kết duyên với Bố Rồng Lạc (Lạc Long Quân) từ dưới biển lên, sinh trăm trứng, nở trăm con trai. Sau chia đôi, năm mươi con theo mẹ lên núi và tôn người con trai trưởng len làm vua (Vua Hùng), lập ra nước Văn Lang - quốc gia cổ đại sơ khai của Việt Nam. Còn năm mươi người con trai khác theo cha xuống lap nghiệp ở vùng sông biển. NÚI - BIỂN; MẸ - BỐ tạo nên một quốc gia Văn Lang thịnh vượng.

Huyền thoại của người Mường thì nói rằng nàng Hưu Cơ (Âu Cơ) kết duyên với chàng Cá (Long Vương) sinh ra một trăm con, sau năm mươi con theo mẹ lên núi sinh ra dòng vua áo Chàm (người Mường), năm mươi con theo cha xuống biển sinh ra dòng vua áo vàng (người Kinh). Giáo sư tiến sĩ Mỹ Keith Weller Taylor trong tác phẩm nổi tiếng “Sự sinh thành của Việt Nam” đã bình luận về huyền thoại khởi nguyên này về phương diện nhà nước pháp quyền như sau: Cái ý tưởng về một vị thần linh từ NƯỚC (BIỂN) lên xây dựng nguồn cội cho một quyền lực chính trị và pháp quyền, tham dự vào việc hình thành cư dân Việt Nam từ thời tiền sử, là một ám thị sớm nhất về một quan niệm rằng: Người Việt Nam là một nhân dân riêng biệt và tự ý thức. Ý tưởng đó được tạo hình ở nghệ thuật Đông Sơn, trên trống đồng với chim biển và các loài thủy tộc bao quanh các con thuyền chuyên chở chiến sĩ [103]. Dân tộc Mường cư trú trên một địa bàn rộng suốt từ phía Tây Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Sơn La, Hòa Bình, Hà Nam Ninh vào đến tận phía Tây Thanh Hóa và Nghệ An.

Căn cứ vào nhiều ngành khoa học, người Mường và người Kinh vốn là anh em cùng một ông tổ trực tiếp, là người Lạc Việt thời Hùng Vương. Đồng bào Mường có cuộc sống của một cư dân nông nghiệp vùng bán sơn địa. Đó là cuộc sống ổn định, quy củ, không được thiên nhiên ưu đãi như vùng đồng bào Thái nhưng cũng không quá gay go như vùng đồng bào Kinh “đất chật người đông”. Đồng bào Mường có lối sống giản dị, thiết thực, ưa thích những biểu hiện rõ ràng, chất phác.

Những nét đặc trưng ấy được thể hiện ngay trong phong cách âm nhạc Mường, được GS. Tô Ngọc Thanh nhận xét: “Giản dị mà không đơn sơ, thiết thực nhưng không thực dụng, rõ ràng khúc chiết nhưng không thô thiển, chất phác mà không nông cạn”[83]. Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào các tài liệu khoa học khác nhau đã đi đến nhận định: Người Việt và người Mường vốn có chung một nguồn gốc. Về nhân chủng, hai nhóm Việt - Mường cùng chung những đặc điểm nhân chủng trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit Phương Nam.

Tuy vấn đề về nguồn gốc người Việt - Mường hiện nay còn tiếp tục nghiên cứu, song hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng: Họ là những cư dân bản địa, tổ tiên người Việt Mường là người Lạc Việt, chủ nhân của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng. Do đó có cơ sở để cho rằng vào thời các vua Hùng hoặc vào thời đại đồng thau, và cả giai đoạn tiếp theo, Việt - Mường còn là một khối thống nhất. Căn cứ theo các tài liệu ngôn ngữ, lịch sử thì từ thế kỷ VIII trở về trước hai dân tộc Việt - Mường có một tiếng nói chung. Vào đầu thế kỷ X, khi kinh đô chuyển từ trung tâm Mường là Hoa Lư về Thăng Long (năm 1010) thì lúc ấy tiếng Việt mới tách khỏi tiếng Mường thành hai ngôn ngữ riêng.

Trước đó, người Việt và người Mường có ngôn ngữ chung với hai phương ngữ: phương ngữ Kinh ở đồng bằng sông Hồng và phương ngữ Mường ở vùng gần chân núi phía Tây - Tây Bắc sông Hồng. Người Mường tự gọi tộc danh của mình là Mol, Mon, Moan, Mual (nghĩa là người). Còn tên tộc danh Mường là về sau này, khi đồng bào canh tác ruộng lúa nước, mỗi đơn vị cư trú làm hệ thống mương dẫn nước tưới tiêu. Từ hệ thống mương dẫn nước dần dần thành đơn vị hành chính cư trú.

Mường trở thành tộc danh của một dân tộc ít người ở Việt Nam. Người Việt - người Mường vốn cùng chung một goc, gọi chung là nhóm Việt - Mường, chỉ mới tách ra thành hai tộc người khác nhau từ những thế kỷ đầu công nguyên. Trong khi bộ phận người Việt xuống vùng đồng bằng và ven biển thì bộ phận người Mường ở lại các vùng thung lũng và chân các dãy núi Tây Nam Bắc bộ và Bắc Trung bộ vừa làm ruộng nước vừa làm ruộng nương. Theo số liệu điều tra dân số công bố năm 2001 của Tổng cục Thống kê thì dân tộc Mường có 1.515 người cư trú ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Thanh Hóa, Ninh Bình.

Nhưng tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình, nơi có bốn vựa thóc lớn, bốn vùng tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, xã hội của người Mường được ghi trong câu tục ngữ cổ: “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” (1) 1. Về kinh tế - xã hội - văn hóa. Kinh tế Người Mường làm ruộng từ lâu đời và sống định canh định cư. Nghề nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và lúa là cây lương thực chủ yếu.

Người Mường trồng lúa khá nhiều trên ruộng bậc thang.Trong công việc đồng áng, có thể nói người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy lơi nhỏ. Đồng bào làm mương, phai để lấy nước. Nhiều nơi thuộc tỉnh Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình còn dùng xe cọn để đưa nước vào ruộng. Cọn có thể đưa nước lên cao năm, sáu mét.

Nhìn chung, hệ thống thủy lợi rất đơn giản nhưng có hiệu quả cho trồng trọt. Cuisinier nhận xét: “Các phương pháp dẫn nước tưới ruộng Mường nếu như không phải là những phương pháp cải tiến, thì cũng đáp ứng đòi hỏi của ngành trồng trọt” [5, tr. ----------------------(1) Đó là mường Bi, mường Vang, mường Thàng, mường Động: bốn vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Hòa Bình. Người Mường chăn nuôi trâu bò chủ yếu lấy sức kéo trong nông nghiệp, trong nghề rừng và để lấy phân bón ruộng.

Trâu được nuôi nhiều hơn bò và được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cưới xin để trao đổi hay bán cho miền xuôi. Săn bắn là một hoạt động trong đời sống của người Mường. Săn bắn kết hợp với sản xuất để chống thú rừng, bảo vệ mùa màng. Săn bắn không những là một nguồn lợi cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui.

Đánh cá là một nghề phụ trong gia đình và tương đối phát triển ở những khu vực ven các con sông và suối lớn. Các công cụ đánh cá khá đa dạng: chài, lưới, vó, đơm, đó, đăng… J. Cuisinier nhận xét về nghề đánh cá và săn bắn: “Nghề đánh cá, tuy không có giá trị to lớn đối với người Mường, song lại đem đến cho họ nguồn lợi thu hoạch ổn định hơn nghề đi săn” [5, tr. 176] Người Mường hái lượm theo mùa.

Mỗi mùa có những loại rau khác nhau. Theo thống kê, về mùa xuân thường có trên 60 loại rau, mùa hè trên 40 loại, mùa thu trên 20 loại và mùa đông khoảng 10 loại. Họ nắm vững chu kỳ sinh trưởng và phát triển của từng loại cây trong rừng: “Tháng sáu gặp nhau ở hố củ mài” “Tháng chín dâu da đều chín” Nghề thủ công trồng bông, kéo sợi, nhuộm sợi, dệt vải đặc biệt phát triển ở người Mường. Các mặt hàng thổ cẩm, mặt gối, mặt chăn, cạp váy của người Mường rất nổi tiếng.

Đặc trưng cơ bản trong nền kinh tế của người Mường: Trong lĩnh vực nông nghiệp, cây lúa giữ vai trò chủ đạo, chăn nuôi là nghề phụ nhưng có mối quan hệ khăng khít với trồng trọt, quy mô chăn nuôi tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng gia đình. Hoạt động thủ công nghiệp đóng khung trong phạm vi gia đình. Hái lượm và đánh cá vẫn đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế, trong khi đó vai trò săn bắt giảm đi nhiều. Toàn bộ đời sống kinh tế của người Mường đến nay chủ yếu vẫn dựa vào thiên nhiên, mang tính tự cung tự cấp.

Thiết chế xóm, mường: Trước cách mạng tháng Tám 1945, xã hội người Mường nằm trong khuôn khổ một xã hội có đẳng cấp. Quý tộc gọi là lang, bình dân gọi là dân. Thiết chế xã hội trong xã hội cổ truyền của người Mường là xóm và mường. Ở đó hình thành bộ máy quản lý, điều hành theo luật tục, mọi thành viên trong cộng đồng xóm, mường phải tuân thủ tuyệt đối.

Sự phân tầng xã hội Mường cũ của Nguyễn Duy Thiệu được thể hiện ở bảng 1. Sự phân tầng xã hội trong thể chế xã hội Mường [88]. Quý tộc: Lang Bình dân: “Jân” Tầng lớp gia nô: Tầng lớp bán tự cun, Lang đạo (những người “Mọi Bi” do: “Tứa rọong” được nhận ruộng (chỉ canh tác công) nương rẫy) Nơi cư trú của người Mường được gọi bằng Quêl hoặc xóm, có nghĩa là làng. Làng là cơ sở của xã hội Mường gồm nhiều tiểu gia đình phụ quyền mà tế bào gia đình là cha mẹ và con cái, trong đó quyền thế tập thuộc về con trưởng.

Khu vực đất đai thiên nhiên được xác lập bền vững được các thành viên của làng biết rõ và các thành viên của làng khác tôn trọng. Trong chế độ lang đạo, tính chất đẳng cấp được bộc lộ rõ rệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ