Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Nông Văn Kế, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 62.05), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thanh Quất. Đề tài tập trung nghiên cứu: "Đặc điểm Hội Nông dân Việt Nam và tác động của nó đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ Hội hiện nay".
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới toàn diện, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân – lực lượng chiếm trên 80% dân số vào thời điểm bắt đầu đổi mới. Mặc dù tổ chức Hội và đội ngũ cán bộ đã có nhiều đóng góp qua các thời kỳ cách mạng, thực tiễn công tác Hội bước vào giai đoạn phát triển mới đã bộc lộ những hạn chế: bất cập trong vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với đường lối, chính sách và các chương trình kinh tế – xã hội của Nhà nước; lúng túng khi thực hiện vai trò nòng cốt xây dựng nông thôn mới; phương thức hoạt động chậm đổi mới, mang tính hình thức, hành chính hóa; cơ cấu tổ chức cồng kềnh do tình trạng nhà nước hóa; một bộ phận cán bộ quan liêu, xa rời cơ sở; cơ cấu cán bộ chưa hợp lý và chất lượng nhìn chung còn thấp. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: trong khi các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ lịch sử hoặc công tác vận động quần chúng đơn thuần, thì việc nghiên cứu hệ thống các đặc điểm của Hội và tác động biện chứng của những đặc điểm này đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dưới góc độ triết học Mác – Lênin vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện.
Mục đích nghiên cứu: Làm rõ đặc điểm của Hội Nông dân Việt Nam hiện nay và sự tác động của nó đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ Hội, từ đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm ba nội dung được đánh số cụ thể:
- Phân tích, khái quát những đặc điểm của Hội Nông dân Việt Nam hiện nay;
- Làm rõ sự tác động của đặc điểm Hội Nông dân đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ Hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế;
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ cán bộ Hội Nông dân trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm của Hội Nông dân và sự tác động của đặc điểm ấy đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ Hội.
Phạm vi nghiên cứu: Về mặt thời gian, luận án giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1986 (khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới) đến năm 2020 (mốc thời gian dự kiến Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại). Về không gian và nội dung, nghiên cứu tập trung vào hệ thống tổ chức Hội Nông dân và đội ngũ cán bộ Hội trên phạm vi cả nước gắn liền với địa bàn nông nghiệp, nông thôn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các tài liệu liên quan thành ba nhóm nghiên cứu chính:
Nhóm nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trong hệ thống chính trị: Nhóm này gồm các công trình của Trần Thị Kim Cúc (1997) về quy hoạch và đào tạo cán bộ trên Tạp chí Xây dựng Đảng; Nguyễn Trọng Bảo (1998) với công trình "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước"; Nguyễn Văn Sáu (2000) với bài viết về xây dựng cán bộ đáp ứng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên Tạp chí Thông tin lý luận; Lê Hữu Nghĩa (2001) nghiên cứu cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2001) với tác phẩm "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước"; Nguyễn Ngọc Hà (2002) bàn về đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số trên Tạp chí Giáo dục lý luận; Hà Đăng (2002) với bài viết về xử lý các mối quan hệ trong công tác cán bộ trên Tạp chí Cộng sản. Các công trình này đã giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn chung về cán bộ của hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới.
Nhóm nghiên cứu về lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam: Tiêu biểu là công trình "Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam (1930 – 1995)" do Trung ương Hội Nông dân xuất bản năm 1998; các cuốn lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân cấp tỉnh như tỉnh Hòa Bình giai đoạn 1930 – 1995 (xuất bản 1998), tỉnh Hải Dương giai đoạn 1930 – 1996 (xuất bản 2000), thành phố Hà Nội giai đoạn 1930 – 2000 (xuất bản 2000). Các công trình này đã cung cấp nguồn tư liệu lịch sử cụ thể về quá trình hình thành, phát triển của phong trào nông dân và tổ chức Hội qua các thời kỳ cách mạng dưới góc độ khoa học lịch sử.
Nhóm nghiên cứu trực tiếp về vị trí, vai trò, chức năng của giai cấp nông dân, Hội Nông dân và cán bộ Hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Gồm ấn phẩm của Trung ương Hội Nông dân (1999) về công tác vận động nông dân; Ban Dân vận Trung ương (2000) về công tác vận động nông dân hiện nay; Trung ương Hội Nông dân (2001) về xây dựng gia đình và thôn ấp văn hóa; luận án tiến sĩ lịch sử của Lê Kim Việt (2002) về công tác vận động nông dân của Đảng; luận văn thạc sĩ triết học của Nông Văn Kế (2002) về đội ngũ cán bộ cơ sở Hội Nông dân là người dân tộc thiểu số; Vũ Ngọc Kỳ (2005) với công trình "Hội Nông dân Việt Nam - 75 năm xây dựng và trưởng thành"; Nguyễn Văn Tâm (2006) về đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Hội; ấn phẩm của Trung tâm Nghiên cứu khoa học Dân vận thuộc Ban Dân vận Trung ương (2006) tổng kết 75 năm công tác dân vận.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn: Mặc dù đã có các công trình lịch sử và chuyên ngành công tác quần chúng, song các nghiên cứu đi trước hầu như chưa tiếp cận dưới góc độ bản chất triết học nhằm làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các đặc điểm của Hội Nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế với những yêu cầu khách quan đặt ra cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ Hội. Luận án chọn khoảng trống này để giải quyết trên nền tảng của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết: Luận án vận dụng nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp, tổ chức chính trị – xã hội và công tác cán bộ; đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và củng cố hệ thống chính trị. Văn bản trích dẫn quan điểm của Ph. Ăngghen về mối quan hệ giữa động cơ hành động và động lực lợi ích ("ở đâu không có lợi ích chung thì ở đó không thể có sự thống nhất về mục đích và càng không thể có sự thống nhất về hành động được"), nguyên lý về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cùng luận điểm của Hồ Chí Minh xác định "cán bộ là cái gốc của mọi công việc". Các khái niệm công cụ được sử dụng chính xác theo văn bản gồm: khái niệm "Cán bộ", "Tổ chức chính trị – xã hội", "Tính chất chính trị – xã hội", "Kiến trúc thượng tầng".
Phương pháp nghiên cứu: Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuần túy thuộc lĩnh vực triết học, không sử dụng các mô hình định lượng hay phân tích kinh tế lượng. Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các chiều cạnh lý luận, đánh giá thực trạng cơ cấu và trình độ cán bộ Hội;
- Phương pháp lôgíc và lịch sử: Dùng để khảo sát các chặng đường phát triển, biến đổi tên gọi và chức năng của Hội Nông dân từ năm 1930 đến giai đoạn đổi mới;
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch, trừu tượng hóa và khái quát hóa: Dùng để khái quát các nhân tố tác động khách quan thành những đặc điểm cốt lõi của tổ chức Hội và rút ra quy luật chi phối việc xây dựng đội ngũ cán bộ.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Văn bản khai thác các nghị quyết, văn kiện của Đảng; Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam; báo cáo thực trạng đội ngũ cán bộ của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; báo cáo của Chính phủ về quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất; số liệu khảo sát của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về tác động của thu hồi đất; số liệu thực tế phản ánh trên báo chí (loạt bài điều tra của Báo Nông thôn ngày nay).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Hội Nông dân Việt Nam và đặc điểm của Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn hiện nay
Chương 1 trình bày tổng quan lịch sử, tính chất tổ chức, thực trạng đội ngũ cán bộ, các nhân tố quy định và hệ thống đặc điểm của Hội Nông dân trong bối cảnh đất nước đổi mới.
Về quá trình phát triển, tổ chức Hội được thành lập vào tháng 10/1930 gắn liền với Nghị quyết về "Nông dân vận động" và Điều lệ Nông hội. Qua các thời kỳ cách mạng, Hội đã mang các tên gọi: Nông hội đỏ (1930), Nông hội (1937), Hội Nông dân phản đế (1939), Hội Nông dân cứu quốc (1941), Hội Nông dân giải phóng miền Nam Việt Nam (ở miền Nam, 1961), Hội Đồng Nông dân tập thể Việt Nam (ở miền Bắc, 1974), Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam (1979) và Hội Nông dân Việt Nam (từ năm 1988 đến nay). Bản chất của Hội được khẳng định là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đóng vai trò cầu nối giữa Đảng với giai cấp nông dân và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ Hội cho thấy quy mô cán bộ rất lớn: Hội quản lý xấp xỉ 10 triệu hội viên, hình thành khoảng 100.000 chi, tổ Hội tại gần 10.000 đơn vị cơ sở Hội; riêng cán bộ cơ sở đã có khoảng 200.000 người (tính bình quân 2 cán bộ mỗi chi, tổ và 2 cán bộ chủ chốt mỗi xã, phường). Bên cạnh đó là hàng ngàn cán bộ chuyên trách từ cấp huyện trở lên. Tuy nhiên, sự chênh lệch về trình độ học vấn và chuyên môn giữa cán bộ cấp cơ sở và cán bộ các cấp trên diễn ra rất lớn, được văn bản thể hiện qua các số liệu thống kê cụ thể:
| Cấp Hội |
Tỷ lệ tốt nghiệp THPT (%) |
Tỷ lệ có trình độ Đại học, Cao đẳng (%) |
Tỷ lệ có trình độ trên Đại học (%) |
| Cơ sở Hội |
14,30% |
0,21% |
0% |
| Cấp huyện, thị |
66,00% |
22,60% |
0% |
| Cấp tỉnh, thành |
83,20% |
49,00% |
0% |
| Cấp Trung ương Hội |
100,00% |
78,00% |
4,00% |
Văn bản chỉ rõ hai nhóm nhân tố chủ yếu tác động và quy định đặc điểm của Hội trong giai đoạn hiện nay:
- Nhóm nhân tố đất nước đổi mới và mở cửa, hội nhập quốc tế: Công cuộc đổi mới chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chọn nông nghiệp làm khâu đột phá. Quá trình mở cửa, tham gia AFTA, ASEAN, APEC, ASEM và gia nhập WTO mở ra thị trường nông sản thế giới trị giá gần 559 tỷ USD, song cũng tạo ra những thách thức: nguy cơ nông nghiệp lệ thuộc vào biến động thị trường thế giới (như ngành cà phê, thủy sản); sức ép cạnh tranh gay gắt về thuế quan và các rào cản kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, các vụ kiện bán phá giá đối với cá tra, cá basa, tôm tại thị trường Hoa Kỳ; sự xâm nhập của lối sống ngoại lai vào địa bàn nông thôn qua phương tiện truyền thông và mạng Internet.
- Nhóm nhân tố công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và sự biến đổi của giai cấp nông dân: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy liên kết khoa học – công nghệ với sản xuất nông nghiệp, chuyển từ độc canh lúa nước sang đa canh hàng hóa, thúc đẩy kinh tế trang trại và doanh nghiệp nông thôn phát triển. Song mặt trái cũng bộc lộ rõ nét:
- Đất đai nông nghiệp bị thu hẹp: Theo báo cáo của Chính phủ nêu trong văn bản, có tới 50% diện tích đất trong các khu công nghiệp chưa được lấp đầy; 12 khu công nghiệp, khu chế xuất thành lập từ trước năm 1998 với diện tích 2.000 ha chưa được lấp đầy (tiêu biểu là Khu chế xuất Hải Phòng quy mô 150 ha thành lập năm 1997 chỉ mới cho thuê được 1 ha). Đến cuối năm 2005, cả nước có 130 khu công nghiệp, khu chế xuất do Chính phủ thành lập (26.520 ha), trên 200 cụm công nghiệp do cấp tỉnh thành lập (13.991 ha) và hơn 10.000 ha đất doanh nghiệp tập trung khác.
- Thất nghiệp và việc làm: Khảo sát của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ ra rằng bình quân mỗi hộ có đất bị thu hồi có 1,5 lao động rơi vào tình trạng mất việc làm; mỗi hecta đất nông nghiệp bị thu hồi khiến 13 lao động mất việc làm. Chênh lệch địa tô từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tạo ra bất công xã hội và hình thành các vùng nghèo mới gắn liền với đô thị hóa.
- Ô nhiễm môi trường nông thôn: Điển hình là tình trạng ô nhiễm tại "xã ung thư" Thạch Sơn (Phú Thọ) do ảnh hưởng từ Nhà máy Hóa chất Lâm Thao.
- Gánh nặng đóng góp: Loạt bài "Một hạt thóc cõng 40 khoản lệ phí" của Báo Nông thôn ngày nay phản ánh tình trạng người nông dân phải gánh vác từ 40 đến 46 khoản đóng góp, có nơi lên đến gần 50 khoản phí, quỹ khác nhau. Gánh nặng này cộng hưởng với tệ quan liêu, mất dân chủ ở cơ sở từng là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới các vụ việc khiếu tố đông người tại Thái Bình trong giai đoạn 1997 – 1998, hay các vụ việc bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo tại Tây Nguyên.
- Hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu: Nông dân còn mang tâm lý vừa bảo thủ, vừa tự phát, dẫn đến hiện tượng phá bỏ cây trồng theo phong trào (như phá tràm, mía trồng lúa hoặc phá cà phê trồng cao su) gây ra tình trạng "được mùa mất giá"; khó khăn về vốn sản xuất do thủ tục ngân hàng phức tạp; tình trạng phân bón giả, giống giả tràn lan.
Từ những nhân tố trên, luận án làm rõ đặc điểm biến đổi sâu sắc về cơ sở giai cấp xã hội của Hội Nông dân:
- Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám đến 1954: Cơ sở xã hội là nông dân nghèo trong điều kiện thuộc địa, nửa phong kiến, phân hóa thành trung nông, bần nông, cố nông và phú nông.
- Giai đoạn 1954 – 1975: Ở miền Bắc, cơ sở của Hội chuyển hóa thành giai cấp nông dân tập thể (xã viên hợp tác xã nông nghiệp); ở miền Nam tiếp tục duy trì kết cấu phân hóa dưới ách chiếm đóng của Mỹ – ngụy.
- Giai đoạn 1975 – 1986: Cơ sở giai cấp trên phạm vi toàn quốc là nông dân tập thể trong các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất theo mô hình kế hoạch hóa tập trung.
- Giai đoạn từ 1986 đến nay: Cơ sở giai cấp xã hội chuyển đổi căn bản từ người nông dân tập thể sang người nông dân cá thể tự chủ. Giai cấp nông dân không còn thuần nhất mà phân hóa sâu sắc về địa vị kinh tế – xã hội: hình thành các chủ trang trại, chủ doanh nghiệp nông dân làm ăn lớn, có thu nhập cao; bên cạnh đó là bộ phận nông dân sản xuất truyền thống, nông dân nghèo mất đất phải đi làm thuê thời vụ hoặc thường xuyên. Tồn tại quan hệ thuê mướn lao động và phát sinh mâu thuẫn về nhu cầu (chẳng hạn chủ trang trại muốn mở rộng hạn điền để tích tụ ruộng đất, trong khi nông dân nghèo lo ngại mất tư liệu sản xuất duy nhất). Tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng đặt ra yêu cầu mới đối với Hội trong việc đại diện lợi ích và giữ vững đoàn kết nội bộ giai cấp.
Chương 2. Tác động của đặc điểm Hội Nông dân Việt Nam đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ Hội và một số vấn đề đặt ra
Chương 2 phân tích sự tác động qua lại biện chứng giữa các đặc điểm của tổ chức Hội tới các yêu cầu phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đồng thời chỉ ra các vấn đề cấp bách và hệ thống quan điểm, giải pháp củng cố đội ngũ này.
Thứ nhất, phân tích tác động của đặc điểm Hội đến yêu cầu xây dựng cán bộ:
Do Hội quản lý số lượng hội viên lên tới xấp xỉ 10 triệu người trải rộng khắp các vùng miền nông thôn, tổ chức bộ máy có gần 100.000 chi, tổ Hội nên công tác cán bộ phải xử lý bài toán quy mô rất lớn với hơn 200.000 cán bộ cơ sở. Đặc điểm cơ sở xã hội của Hội bị phân hóa phức tạp đòi hỏi người cán bộ không thể áp dụng phương thức tuyên truyền, vận động bình quân, xơ cứng thời bao cấp. Cán bộ Hội phải nắm vững kiến thức kinh tế thị trường, hiểu biết về pháp luật, chính sách đất đai, tiêu chuẩn kỹ thuật hàng hóa và dịch vụ khuyến nông để hỗ trợ cả người làm kinh tế trang trại lẫn nông dân nghèo. Đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp trên và cơ sở phải xóa bỏ khoảng cách trình độ quá lớn để có thể phối hợp chỉ đạo thống nhất.
Thứ hai, các vấn đề đặt ra trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ Hội:
- Tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa tổ chức bộ máy của Hội khiến hệ thống cồng kềnh, giảm tính năng động của một đoàn thể quần chúng.
- Năng lực thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội của cán bộ Hội trước các chủ trương, dự án kinh tế – xã hội của Nhà nước còn rất yếu, chưa bảo vệ kịp thời quyền lợi chính đáng của nông dân khi bị thu hồi đất hoặc giải quyết tranh chấp kinh tế.
- Tác phong công tác của một bộ phận cán bộ còn quan liêu, xa dân, chưa nắm bắt kịp thời các "điểm nóng" và bức xúc về thuế, phí, tệ nạn xã hội tại cơ sở nông thôn.
- Trình độ học vấn và chuyên môn của cán bộ cơ sở quá thấp (tỷ lệ tốt nghiệp THPT chỉ 14,30%, đại học và cao đẳng chỉ 0,21%), cản trở việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và năng lực quản lý mới.
Thứ ba, hệ thống quan điểm và giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng cán bộ Hội:
Luận án trình bày hệ thống quan điểm chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Hội gắn liền với yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với công tác cán bộ Hội. Các nhóm giải pháp cụ thể gồm:
- Kiện toàn công tác quy hoạch, tạo nguồn và chuẩn hóa chức danh cán bộ Hội các cấp, đặc biệt chú trọng cán bộ cơ sở và vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
- Đổi mới căn bản nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội: kết hợp trang bị lý luận chính trị Mác – Lênin với nâng cao kiến thức kinh tế nông nghiệp, kiến thức pháp luật, kỹ năng dân vận và khuyến nông;
- Cải tiến chính sách đãi ngộ, chế độ phụ cấp và điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ cơ sở nhằm tạo động lực công tác;
- Đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Hội: khắc phục bệnh hành chính hóa, chuyển trọng tâm hoạt động về cơ sở, gắn công tác vận động với việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ vốn, khoa học kỹ thuật và bảo vệ quyền lợi hội viên.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học, luận án tự xác định ba đóng góp mới chính:
Thứ nhất, luận án đã đưa ra và luận giải một cách có hệ thống những đặc điểm cơ bản của Hội Nông dân Việt Nam hiện nay dưới lăng kính của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nghiên cứu chỉ rõ sự biến đổi căn bản về cơ sở giai cấp xã hội của Hội từ giai cấp nông dân tập thể đồng nhất sang giai cấp nông dân cá thể đa tầng, phân hóa sâu sắc về kinh tế, lợi ích và địa vị xã hội dưới tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, luận án phân tích sâu sắc cơ chế tác động biện chứng của các đặc điểm tổ chức Hội tới yêu cầu khách quan, nội dung và phương thức xây dựng đội ngũ cán bộ Hội. Nghiên cứu chỉ ra những mâu thuẫn nội tại đang tồn tại: mâu thuẫn giữa quy mô cán bộ khổng lồ với chất lượng học vấn, chuyên môn rất thấp ở cấp cơ sở; mâu thuẫn giữa yêu cầu giám sát, phản biện, hướng dẫn kinh tế hiện đại với tình trạng hành chính hóa, quan liêu và phương thức vận động chậm đổi mới.
Thứ ba, luận án đề xuất hệ thống quan điểm định hướng và nhóm giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Nông dân Việt Nam đến năm 2020. Các đề xuất nhấn mạnh việc chuẩn hóa cán bộ cơ sở, đổi mới nội dung bồi dưỡng gắn với đặc thù kinh tế nông nghiệp hàng hóa và kiện toàn chính sách đãi ngộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do khuôn khổ giới hạn chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS), luận án tập trung chủ yếu vào việc khái quát bản chất lý luận, mối quan hệ biện chứng và các quy luật xã hội tổng quát, chưa đi sâu khảo cứu các biến số kỹ thuật quản trị nhân sự vi mô hoặc thống kê thực nghiệm phân tầng đối với từng nhóm cán bộ theo vùng sinh thái nông nghiệp riêng biệt (như đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên hay đồng bằng sông Cửu Long). Phạm vi khảo sát mốc thời gian kết thúc ở tầm nhìn năm 2020 theo định hướng phát triển của thời điểm nghiên cứu (năm 2008).
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể triển khai:
- Mở rộng nghiên cứu biến đổi của Hội Nông dân và giai cấp nông dân Việt Nam trong giai đoạn sau năm 2020, gắn với bối cảnh chuyển đổi số nông nghiệp và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới;
- Tiến hành các khảo sát xã hội học thực nghiệm định lượng về mức độ đáp ứng năng lực của cán bộ Hội cơ sở tại từng địa bàn đặc thù;
- Nghiên cứu cơ chế vận hành cụ thể của chức năng giám sát và phản biện xã hội của Hội Nông dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng và Quản lý nhà nước khi nghiên cứu về kiến trúc thượng tầng, tổ chức chính trị – xã hội và vấn đề nông dân thời kỳ đổi mới.
- Hệ thống các trường chính trị cấp tỉnh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam: Luận án cung cấp các luận cứ lý luận và số liệu thực tế để biên soạn giáo trình, bài giảng bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Hội các cấp.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu chính sách, công tác dân vận của Đảng và chính quyền các cấp: Luận án cung cấp bức tranh chân thực về thực trạng nông thôn, tác động tiêu cực của quá trình thu hồi đất, ô nhiễm môi trường và gánh nặng đóng góp của nông dân, giúp hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội ở nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chỉ ra thực trạng chênh lệch về trình độ học vấn và chuyên môn của cán bộ Hội các cấp như thế nào?
Số liệu văn bản trích dẫn cho thấy sự chênh lệch rất lớn giữa cấp cơ sở và cấp trên: tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của cán bộ cơ sở Hội chỉ đạt 14,30%, trong khi cấp huyện là 66%, cấp tỉnh là 83,2% và cấp Trung ương là 100%. Về chuyên môn, tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng ở cấp cơ sở chỉ đạt 0,21%, trong khi ở cấp huyện là 22,6%, cấp tỉnh là 49% và cấp Trung ương là 78% (cùng 4% có trình độ trên đại học).
2. Mặt trái của quá trình thu hồi đất nông nghiệp phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa được dẫn chứng bằng những số liệu thực tế nào?
Văn bản dẫn báo cáo của Chính phủ cho thấy 50% diện tích đất trong các khu công nghiệp chưa được lấp đầy; 12 khu công nghiệp, khu chế xuất thành lập trước năm 1998 với tổng diện tích 2.000 ha chưa được lấp đầy (như Khu chế xuất Hải Phòng quy mô 150 ha lập năm 1997 chỉ cho thuê được 1 ha). Theo khảo sát của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, bình quân mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng mất việc làm và mỗi hecta đất nông nghiệp bị thu hồi khiến 13 lao động mất việc làm.
3. Cơ sở giai cấp xã hội của Hội Nông dân Việt Nam đã biến đổi căn bản ra sao trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay?
Cơ sở giai cấp của Hội đã chuyển đổi từ những người nông dân tập thể thuần nhất trong các hợp tác xã kiểu cũ thời bao cấp thành những người nông dân cá thể tự chủ. Trong nội bộ nông dân diễn ra sự phân hóa giai cấp sâu sắc: hình thành bộ phận chủ trang trại, chủ doanh nghiệp nông dân làm ăn lớn, có thu nhập cao bên cạnh bộ phận nông dân nghèo làm ăn theo cách truyền thống hoặc mất đất phải làm thuê; xuất hiện quan hệ người chủ và người làm thuê cùng mâu thuẫn về lợi ích.
4. Tổ chức Hội Nông dân Việt Nam đã trải qua những tên gọi lịch sử nào từ năm 1930 đến nay?
Theo văn bản, các tên gọi lịch sử gồm có: Nông hội đỏ (thành lập tháng 10/1930), Nông hội (1937), Hội Nông dân phản đế (1939), Hội Nông dân cứu quốc (1941), Hội Nông dân giải phóng miền Nam Việt Nam (thành lập ở miền Nam năm 1961), Hội Đồng Nông dân tập thể Việt Nam (thành lập ở miền Bắc năm 1974), Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam (1979) và chính thức mang tên Hội Nông dân Việt Nam từ năm 1988 đến nay.
5. Gánh nặng đóng góp của người nông dân được văn bản phản ánh qua tư liệu nào và gây ra hệ quả xã hội gì?
Văn bản dẫn loạt phóng sự "Một hạt thóc cõng 40 khoản lệ phí" của Báo Nông thôn ngày nay, chỉ rõ nông dân phải chịu từ 40 đến 46 khoản đóng góp, cá biệt có nơi gần 50 khoản phí, quỹ khác nhau. Gánh nặng này kết hợp với tình trạng cán bộ cơ sở cửa quyền, tham ô, mất dân chủ đã dẫn đến các sự kiện nông dân khiếu tố đông người tại Thái Bình trong những năm 1997 – 1998.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nông Văn Kế là công trình nghiên cứu chuyên khảo dưới góc độ triết học Mác – Lênin về mối quan hệ giữa đặc điểm tổ chức Hội Nông dân và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Bằng việc phân tích toàn diện các nhân tố tác động khách quan, tác giả đã làm rõ sự phân hóa sâu sắc về cơ sở xã hội của giai cấp nông dân cùng các bất cập lớn về trình độ của đội ngũ cán bộ Hội cơ sở. Các luận điểm, số liệu thực tế và hệ thống giải pháp được trình bày trong luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào công tác nghiên cứu và đào tạo cán bộ của hệ thống chính trị Việt Nam.