đặt vấn đề nghiên cứu về tên riêng người Việt (người Kinh). Nghiên cứu tên riêng người Việt, từ bình diện ngôn ngữ, một số tác giả tập trung ý kiến về vấn đề lịch sử và 6 cách viết chính tả tên riêng. Cùng với đó bước đầu đề cập một vài đặc điểm của tên riêng cũng như các yếu tố trong cấu trúc tên riêng chỉ người như: Nguyễn Kim Thản (1975) với Vài nét về tên người Việt, Trần Ngọc Thêm (1976) với Về lịch sử hiện tại và tương lai của tên riêng người Việt, Nguyễn Minh Thuyết (1995) với “Quanh cái tên người”, Nguyễn Văn Khang (2006) với Nghiên cứu tên người trên bình diện ngôn ngữ học – xã hội, Phạm Tất Thắng (1996) với Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt. Lê Trung Hoa (1992, 2013) Họ và tên người Việt Nam, Nhân danh học Việt Nam đi sâu tìm hiểu các vấn đề cụ thể về tên họ, tên đệm, tên chính với các nội dung như: khái niệm, chức năng, vị trí, nguồn gốc, ý nghĩa, việc phân bố v.v… Thời gian gần đây, nhiều công trình nghiên cứu là các bài báo khoa học, các luận văn tiến sĩ, các đề tài nghiên cứu thạc sĩ tiêu biểu như: Các dân tộc Việt Nam - Cách dùng họ và đặt tên của Nguyễn Khôi (2006), Nghĩa tên riêng của người của tác giả Bình Long (1989), A Cross-cultural Approach to Personal Naming: Given Names in the Systems of Vietnamese and English của tác giả Nguyễn Việt Khoa (2010), Những đặc trưng xã hội – ngôn ngữ học của tên riêng chỉ người trong tiếng Việt của tác giả Vũ Thị Kim Thoa (2005), Đặc điểm tên người Hán hiện nay (Đối chiếu với tên người Việt) của Mông Lâm (2010), Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của tên chính danh người Nhật (có đối chiếu với tên người Việt) của Vương Đình Hòa (2005) v.v…Hầu hết các nghiên cứu nêu lên ý nghĩa của tên riêng; những đặc điểm cấu trúc hay đặc trưng xã hội, ngôn ngữ và văn hóa thể hiện qua tên riêng đặc biệt là trong tương quan so sánh với tên riêng của một vùng, lãnh thổ khác.
Tuy các công trình nghiên cứu về tên người nói chung có số lượng rất lớn và đa dạng, song các công trình nghiên cứu về tên riêng nữ giới Pháp thì còn hạn chế. Một bình diện nổi bật trong nghiên cứu tên nữ giới người Pháp đó là bình diện ngôn ngữ học xã hội với rất nhiều công trình nghiên cứu về tên nữ giới và tình trạng hôn nhân. Gốc rễ của vấn đề nằm ở phong tục đổi tên nữ sau khi kết hôn ở nhiều quốc gia châu Âu trên thế giới. Có thể kể đến một số công trình ở Pháp như sau Weiss D.
với Le nom des femmes (1993), Les noms d’une femme (2010) và M. Valetas với Le nom des femmes mariées en Europe (2001), Daphnée L. với L’évocateur “double nom” des femmes mariées, entre f esminism et patriarcat (2018) hay ở Anh với các bài báo như 7 The Distinction of Gender? Women‟s Names in the Thirteenth Century của Postles (1996), A Name of One‟s Own: Identity, Choice and Performance in Marital Relationship của Wilson (2009), The Making of Selfhood: Naming Decisions on Marriage của Thwaites (2013). Các công trình đều xoay quanh vấn đề đổi tên của phụ nữ sau khi thay đổi tình trạng hôn nhân như đổi tên sau kết hôn, đổi tên sau li hôn, đổi tên sau khi chồng mất.
Đây là các nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học, triết học, xã hội học, tâm lý học… Nhìn một cách tổng thể, có thể nhận thấy việc nghiên cứu tên riêng của người nói chung và tên nữ giới nói riêng là lĩnh vực sâu rộng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa tìm thấy những công trình đi sâu nghiên cứu đối chiếu về đặc điểm ngữ nghĩa của tên riêng nữ giới Việt Nam và Pháp. Danh xƣng học và tên riêng 1. Danh xưng học Ngành khoa học nghiên cứu tên riêng và nguồn gốc tên riêng trên tất cả các bình diện được gọi là Danh xưng học (Onomastique).
Từ Onomastique xuất phát từ “onoma” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tên riêng”. Trong từ điển Le Petit Larousse (2019) đưa ra định nghĩa Danh xưng học như sau: “Danh xưng học là một nhánh của từ vựng học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc của tên riêng (người ta phân biệt nhân danh học nghiên cứu về tên chỉ người với địa danh học nghiên cứu về địa danh)”1. Tương tự, Dubois J. (1994) cũng định nghĩa: “Danh xưng học là một nhánh của từ vựng học, là đối tượng của ngành Danh xưng học để nghiên cứu về tên riêng”.
Hai nhánh chính này là “Địa danh học” – ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là địa danh và “Nhân danh học” – có đối tượng nghiên cứu liên quan đến tên riêng của người. Mặc dù các nhà khoa học quan tâm muộn đến Danh xưng học nhưng họ cũng đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về lĩnh vực này. (2008) cho rằng Danh xưng học là một nhánh của ngữ nghĩa học, nghiên cứu về từ nguyên của danh từ riêng. Đồng quan điểm với 1 Nguyên văn: Branche de la lexicologie qui étudie l'origine des noms propres.
(2003) chỉ rõ thêm nó bao gồm danh từ riêng chỉ người và danh từ riêng chỉ địa danh. Tương tự, Colman (2008) miêu tả Danh xưng học như một ngành khoa học nghiên cứu về tên và cách đặt tên. Ông cho rằng Danh xưng học được chia thành Nhân danh học (anthroponomastics) nghiên cứu về tên người và Địa danh học (toponomastics) nghiên cứu về tên đất nhưng Danh xưng học thiên về nghiên cứu tên người nhiều hơn. Trên quan điểm ngôn ngữ học, Matthews P.
(1998) cũng đưa ra những định nghĩa đáng chú ý. Trong khi Matthews quan niệm rằng Danh xưng học là ngành khoa học nghiên cứu về cả tên người và tên địa danh thì Bussmann lại định nghĩa cụ thể hơn về Danh xưng học: “Nó là một ngành khoa học nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và sự phân vùng địa lý của tên riêng”. Ông chia Danh xưng học thành các nhóm nhỏ hơn đó là Nhân danh học, Thủy danh học và Địa danh học. Nhìn chung, phạm vi nghiên cứu của ngành Danh xưng học rất rộng rãi, bởi vì gần như mọi sự vật đều có tên.
Chính vì vậy, về mặt lí thuyết, việc nghiên cứu tên riêng có thể được tiến hành ở vùng địa lí, ở nhiều nền văn hóa và các thời kỳ khác nhau…Tuy có nhiều luận điểm khác nhau về Danh xưng học nhưng nghiên cứu này chỉ xem Danh xưng học là một ngành khoa học nhân văn, nghiên cứu về tên và cách đặt tên người, tên nơi chốn và các sự vật, hiện tượng khác. Tên riêng Cho đến nay, các nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tên riêng (nom propre). (1998) cho rằng “tên riêng (proper name) là tên của từng cá thể riêng biệt, đó là tên người, tên địa điểm, sự vật, sự kiện, xuất bản phẩm,… hay nói cách khác, tên riêng là các danh từ riêng chỉ các thực thể tồn tại duy nhất, ví dụ: London, Hà Nội, sông Thames, sông Hồng. (1976) đã đưa ra định nghĩa về tên riêng như sau: “Tên riêng thông thường được hiểu là một dấu hiệu của nhận dạng xã hội sao cho nó có thể liên tục và duy nhất chỉ định một cá nhân”.
Trong từ điển Le nouveau petit Robert (2007) định nghĩa tên riêng như sau: “từ hoặc nhóm từ 9 dùng để chỉ một cá nhân và dùng để phân biệt những cá thể trong cùng một cộng đồng”. Theo Huddleston, tên riêng là một phân lớp của danh từ về mặt ngữ pháp và tên riêng là tên được cá thể hoá cho cá nhân, địa điểm hay tổ chức., việc cá thể hoá này được thực hiện thông qua việc đặt tên (1998, tr. Trên quan điểm ngữ dụng, ngữ nghĩa, cú pháp, Van L. (2016) đã đưa ra định nghĩa về tên riêng như sau: “Về ngữ dụng học, tên riêng là một danh từ biểu thị cho những thực thể tồn tại duy nhất ở cấp độ qui ước hình thành ngôn ngữ, khiến cho thực thể đó nổi bật về mặt tâm lí trong phạm vi phạm trù được đưa ra ở mức độ cơ bản.
Về ngữ nghĩa học, ý nghĩa của tên riêng (nếu có) thì rất khó có thể xác định được. Về cú pháp học, một sự phản ánh quan trọng của đặc điểm ngữ nghĩa – cú pháp của tên riêng là khả năng xuất hiện của tên riêng trong một cấu trúc đóng”. Trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học cũng đưa ra các định nghĩa và quan điểm khác nhau về tên riêng. Đỗ Hữu Châu (1993) cho rằng: “Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật.
Tên riêng hoàn toàn không phải không có nghĩa biểu niệm”. Ông cũng chỉ ra: “Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù cá thể được gọi tên bằng tên riêng đó (.) Quan trọng hơn là tên riêng được dùng trong chức năng xưng hô. Tuy là phạm trù ngôn ngữ học phổ quát, nhưng tên riêng mang đậm bản sắc dân tộc cả về qui tắc đặt tên và qui tắc dùng”. Theo quan niệm của Dương Kỳ Đức (2017), tên riêng là “tên gọi cho một sự vật, hiện tượng duy nhất, độc nhất để phân biệt, cá thể hóa sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng gần gũi trong một tập hợp nào đó”.
Theo ông, tính chất duy nhất, độc nhất, cá thể hóa này được hiểu không phải theo nghĩa tuyệt đối mà theo nghĩa tương đối, trong quan hệ với các sự vật, hiện tượng gần gũi trong một tập hợp nào đó. Chẳng hạn, trong tập hợp “các xe máy tay ga của Yamaha” thì Acruzo là một tên riêng, để phân biệt với các xe Nozza, Grande, Janus, Sirius,…, mặc dù có hàng nghìn chiếc xe máy tay ga Acruzo đời 2016 giống nhau như đúc. Tương tự trong tập hợp “các ngày tết trong chu kì một năm”, thì Tết cơm mới là một tên riêng, để phân biệt, cá thể hóa với các tên gọi tết khác, như Tết hàn thực, Tết đoan ngọ, Tết trung thu,…Cũng vậy, trong tập hợp một “thập lục hoa giáp” (chu kì 60 năm) thì Đinh Dậu là một tên riêng của năm, trong quan hệ với các năm khác như Nhâm, Bính, Quý,… 10 Chính vì vậy, Molino J. (1982) đã đúc kết lại rằng tên riêng có một vị trí khác thường trong ngôn ngữ và ngôn ngữ học.
Về mặt lượng, tên riêng hay tên chung đều rất phong phú trong từ điển.