mở đầu, tình huống dẫn dắt, tình huống kết thúc. Loại thứ hai: tình huống nhân vật, cái mà khiến nhân vật phải xử lí bằng hành động, tri nhận và biểu lộ tình cảm vào đó. Tình huống truyện loại này thường 12 có vai trò gây đột biến, tạo ra bước ngoặc, sự biến đổi bất ngờ trong cuộc đời, trong tâm trạng hoặc nhận thức của nhân vật. Tình huống truyện có khi diễn ra rất nhanh gắn với một thời điểm tức thời của truyện nhưng có khi lại diễn ra trong cả một quá trình vận động của nhân vật.
Đối với truyện ngắn hiện đại, tình huống truyện lại càng có vị trí quan trọng. Truyện có thể có cốt truyện, hoặc cốt truyện rất mờ, thậm chí không có cốt truyện nhưng truyện không thể không có tình huống truyện. Mỗi truyện ngắn đều chứa đựng ít nhất một tình huống. Tình huống truyện chính là sợi chỉ đỏ gắn kết các nhân vật cùng tham gia vào các sự kiện.
Thông qua đó, các nhân vật bộc lộ tính cách cũng như các mối quan hệ phức tạp của mình. Tình huống truyện còn có vai trò quan trọng trong việc bộc lộ chủ đề của tác phẩm. Tình huống truyện cũng khẳng định nét riêng trong phong cách của nhà văn. Cho nên, tình huống truyện càng độc đáo, đặc sắc thì sức hấp dẫn của truyện càng mạnh mẽ, sức sống của truyện càng lâu bền.
Đọc xong một truyện ngắn, gấp trang sách, người đọc có thể không nhớ nội dung nhưng khó có thể quên tình huống, chẳng hạn, đó là sự nhầm lẫn của đôi thanh niên trên tàu điện ngầm, của nhân dân Pháp và của cả chính phủ Pháp trong truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc; là cuộc gặp gỡ éo le, bi kịch giữa Huấn Cao và quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân; là cuộc gặp gỡ cùng với năm ngày đêm chung sống cùng nhau của Chí Phèo và thị Nở trong Chí Phèo của Nam Cao… 1. Khái quát về ngôn ngữ và lí thuyết hội thoại 1. Khái quát về ngôn ngữ a. Khái niệm ngôn ngữ Là một đối tượng nghiên cứu về ngôn ngữ học "ngôn ngữ" có hai nghĩa chính: một khái niệm trừu tượng và một hệ thống ngôn ngữ cụ thể.Saussure trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương: “Ngôn ngữ là một hệ thống trong đó mọi yếu tố đều gắn bó khăng khít, mà giá trị của yếu tố này chỉ là hệ quả của sự tồn tại đồng thời của những yếu tố khác”.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp, được con người hay động vật sử dụng để liên lạc hay giao tiếp với nhau, cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng một hệ thống như vậy. Là hệ thống thông tin liên lạc được sử dụng bởi một cộng đồng hoặc quốc gia cụ thể, cách thức hoặcphong cách của một đoạn văn bản hoặc lời nói”. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu phức tạp được con người sử dụng để liên lạc, giao tiếp với nhau. Ngôn ngữ còn là một hệ thống tín 13 hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của xã hội loài người bởi nó vừa là phương tiện tư duy vừa là công cụ giao tiếp của xã hội.
Nhiều ngôn ngữ sử dụng điệu bộ, âm thanh, ký hiệu, hay chữ viết, và cố gắng truyền khái niệm, ý nghĩa, và ý nghĩ, nhưng mà nhiều khi những khía cạnh này nằm sát quá, cho nên khó phân biệt nó. Ngôn ngữ không phải là một bộ "quy tắc và ngữ pháp”. Ngôn ngữ là công cụ người ta dùng để biểu đạt ý nghĩa và tình cảm của mình đối với người khác, qua đó để người ta hiểu nhau. Khi đề cập đến vai trò, chức năng của ngôn ngữ, V.
Lê-nin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”. Thông qua giao tiếp ngôn ngữ, con người tác động đến nhau, hiểu nhau và trên cơ sở đó chia sẻ, hợp tác với nhau để sống, lao động và chinh phục thiên nhiên… Không chỉ là phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ còn là công cụ của tư duy.Enghen trong Hệ tư tưởng Đức đã khẳng định: “Ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn, ngôn ngữ cũng tồn tại cho cả những người khác nữa, như vậy là cũng tồn tại lần đầu tiên cho bản thân tôi nữa; và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra là do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác”. Quá trình phát triển tư duy cả mỗi cá nhân gắn liền với quá trình phát triển ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà mọi ý nghĩ của con người trở nên sáng rõ hơn.
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp phổ biến và hữu hiệu, là phương tiện tư duy đắc lực mà còn là chất liệu, phương tiện đặc biệt quan trọng của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Theo đại văn hào Nga M.Gor-ki: “Ngôn ngữ là yếu tố thứnhất của văn học”. Vậy nên, có thể khẳng định, nếu không có ngôn ngữ thì cũng không có văn học - bộ môn nghệ thuật ngôn từ. Ngôn ngữ có 3 chức năng chính: để chỉ nghĩa, để thông báo và để khái quát hóa (có quan hệ với tư duy).
Chức năng chỉ nghĩa: để chỉ chính bản thân sự vật hiện tượng, để gắn với một biểu tượng nào đó của sự vật hiện tượng và có chức năng làm phương tiện cho sự tồn tại, truyền đạt và nắm vững các kinh nghiệm xã hội, lịch sử loài người. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật Như ban đầu chúng tôi đã đề cập về vai trò của ngôn ngữ trong văn học hay đặc biệt là truyện ngắn. Vai trò của ngôn ngữ đối với văn học cũng tương tự như vai trò của màu sắc đối với hội hoạ, mảng khối đối với kiến trúc, âm thanh và tiết tấu đối với âm nhạc… Đại văn hào Nga M. Gorki đã từng có nhận định rằng: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”.
Khi đó, các nhà văn, nhà thơ sử dụng ngôn ngữ toàn dân để sáng tạo nên ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật bắt nguồn từ ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày… Vậy ngôn ngữ nghệ 14 thuật chính là: “ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, gọt giũa, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ”. Nhưng đó là thứ ngôn ngữ đã được gọt giũa, nhào nặn, tái tạo qua lăng kính cảm xúc thấm đẫm màu sắc chủ quan cũng như tài năng “nhả ngọc phun châu” của người nghệ sĩ.
Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà văn học được gọi là bộ môn nghệ thuật ngôn từ và nhà văn được gọi là nghệ sĩ ngôn từ. Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm văn chương. Đó là ngôn ngữ toàn dân đã được nâng cấp, nghệ thuật hoá, đã được chọn lọc, trau chuốt gọt giũa để trở nên trong sáng, chính xác, tinh tế, gợi cảm, có khả năng biểu đạt mọi trạng thái tinh tế của sự vật cũng như những cung bậc, sắc thái tình cảm mơ hồ, mong manh rất đa dạng, phức tạp của lòng người…Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật: chức năng thông tin & chức năng thẩm mĩ. Phạm vi sử dụng: + Dùng trong văn bản nghệ thuật: Ngôn ngữ tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình, hồi kí…); Ngôn ngữ trữ tình (ca dao, vè, thơ…); Ngôn ngữ sân khấu (kịch, chèo, tuồng…) + Ngoài ra ngôn ngữ nghệ thuật còn tồn tại trong văn bản chính luận, báo chí, lời nói hằng ngày.
Đặc biệt, ngôn ngữ ấy phải đem đến cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ, đánh thức trong tâm hồn người đọc những ấn tượng, liên tưởng, tưởng tượng tinh tế mà cũng hết sức phong phú, mãnh liệt về đời sống phúc tạp xung quanh đặc biệt là thế giới nội tâm tinh tế của con người. Cũng qua ngôn ngữ, người đọc cảm nhận được sở thích, cá tính sáng tạo, phong cách và tài năng của nhà văn. Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng toả sáng sự hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ đời sống, hằng ngày; không những thế, đó còn là những người nghệ sĩ cần cù miệt mài để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác. Nghĩa là đến lượt mình, nhà văn chính là người đưa ngôn ngữ đời sống đôi khi còn xù xì, góc cạnh, thô ráp trở thành những giai điệu mượt mà, ấm áp, giàu hình ảnh, màu sắc, có khả năng gợi hình, gợi cảm… 1.
Khái quát về lí thuyết hội thoại a. Khái niệm hội thoại Ngôn ngữ chính là phương tiện giúp con người giao tiếp. Và giao tiếp là hoạt động tất yếu của con người trong xã hội. Hoạt động này diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định, với một nội dung nhất định, thông qua phương tiện giao tiếp nhất 15 định, trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Chúng ta đều biết giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết. Tuy nhiên, dạng nói là chủ yếu và phổ biến. Trong giao tiếp có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều. Đối với giao tiếp một chiều chỉ có một bên nói còn bên kia tiếp nhận, hình thức này chúng ta bắt gặp ở những bài diễn văn, mệnh lệnh quân sự, lời dẫn của xướng ngôn viên truyền hình… Còn đối với hình thức giao tiếp hai chiều, hình thức này rất phổ biến: bên này nói bên kia nghe và phản hồi lại, lúc đó vai trò hai bên thay đổi: người nói sẽ trở thành người nghe và ngược lại, hình thức này gọi là hội thoại.
Trong các tác phẩm văn học hội thoại chính là đối thoại. Hội thoại trong văn học là một đề tài được các nhà ngôn ngữ học tìm hiểu một cách có hệ thống từ những năm 1970. Có thể thấy điều này trong các công trình của Donal C. Vận dụng các thành tựu của các công trình đi trước, trong bài viết này chúng tôi tập trung phân tích hội thoại văn học theo ba góc độ: hành động ngôn từ, nguyên tắc cộng tác, thể diện và lịch sự.
Chính vì thế mà khái niệm hội thoại có liên quan mật tới khái niệm giao tiếp. Tuy khái niệm hội thoại hẹp hơn giao tiếp, nó chỉ là một phần của giao tiếp nhưng nó là một phần căn bản, phổ biến và quan trọng nhất. Nếu giao tiếp có thể diễn ra một chiều hay hai chiều, có thể ở dạng nói hay dạng viết thì hội thoại là hoạt động giao tiếp diễn ra hai chiều ở dạng nói. Về hình thức của hội thoại rất đa dạng.