Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lí thuyết giao tiếp Giao tiếp là sự chia sẻ ý nghĩ, tình cảm thông tin với một hoặc nhiều người. Trong giao tiếp, chúng ta thường sử dụng lời nói để biểu đạt ý nghĩ của mình và để trao đổi thông tin với người khác. Nhưng giao tiếp không chỉ đơn giản là nói chuyện với ai đó mà trong đó còn bao hàm rất nhiều các vấn đề khác như: Bạn nói như thế nào? Bạn hiểu đối tượng giao tiếp với mình như thế nào? Làm thế nào để hai bên có thể hiểu rõ về các thông tin cùng trao đổi? Bạn làm thế nào để lần giao tiếp đó đạt được kết quả như bạn mong đợi.? Đúc rút lại những ý chung nhất, cô đọng nhất về giao tiếp trong từ điển Khái niệm Ngôn ngữ học của Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa “Giao tiếp là sự trao đổi tư tưởng, thông tin,… giữa hai hoặc hơn hai người.
Trong mỗi hành động giao tiếp thường có ít nhất một người nói hoặc người gửi, một thông điệp được truyền đạt và một người hoặc những người tiếp nhận”. Vai giao tiếp và quan hệ giao tiếp 1. Vai giao tiếp Trong bất kỳ một cuộc giao tiếp hội thoại nào thì cũng có sự phân vai thành vai phát diễn ngôn - Sp1 (nói/viết) và vai tiếp nhận diễn ngôn - Sp2 (nghe/đọc). Trong giao tiếp đương diện (mặt đối mặt) hai vai nói và nghe thường có sự luân chuyển.
- Vai phát ra diễn ngôn (vai phát tin) là vai mà nhiệm vụ các nhân vật phải làm là sử dụng ngôn ngữ (ở hai dạng nói và viết) để truyền tin gọi là người nói hay người viết tùy theo hình thức ngôn ngữ sử dụng. - Vai tiếp nhận diễn ngôn (vai nhận tin) có nhiệm vụ sử dụng ngôn ngữ để tiếp nhận các thông tin được truyền đến qua ngôn bản. 12 Như vậy, trong một cuộc giao tiếp hội thoại, hai vai phát tin và vai nhận tin sẽ có sự chuyển đổi vai qua lại. Và sự chuyển đổi vai sẽ được thực hiện theo một quy tắc nhất định để duy trì cuộc hội thoại và đạt được đích giao tiếp.
Các vai xã hội thường được phân thành hai nhóm: Vai thường xuyên và vai lâm thời hay vai tình huống. Vai thường xuyên được đặc trưng bởi giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp. Vai lâm thời có hai nhóm :lâm thời thể chế và lâm thời tình huống. Thuộc vai lâm thời thể chế có thể gặp ở trong các quan hệ xã hội như: thủ trưởng -nhân viên, cha mẹ- con cái, vợ - chồng.
Còn quan hệ giữa người Mua - người bán sẽ xác lập nên các nhóm vai tình huống. Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong cặp vai, có thể chia quan hệ vai thành hai nhóm: - Vai người nói ngang hàng với người nghe. - Vai người nói không ngang bằng với người nghe, Trong đó: + Vai người nói thấp hơn vai người nghe (A<B) + Vai người nói cao hon vai người nghe (A>B) 1. Quan hệ giao tiếp a.
Quan hệ vị thế Quan hệ vị thế là quan hệ tôn ti xã hội tạo thành các vị thế trên dưới xếp thành tầng bậc trên trục khoảng cách. Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ xác nhận vị thế giao tiếp ở những mức độ cao thấp khác nhau do đó quan hệ vị thế về cơ bản là phi đối xứng. Người ở vị thế cao được quyền quyết định nội dung giao tiếp. Chẳng hạn, một giáo viên bộ môn thì sẽ chỉ dạy, truyền đạt cho học sinh hiểu những kiến thức về môn học đó theo chương trình giáo dục hiện hành.
Lúc này, người thầy có vị thế giao tiếp cao và là người quyết định nội dung giao tiếp. 13 Quan hệ vị thế phụ thuộc vào yếu tố khách quan như cương vị xã hội, tuổi tác, giới tính. Đồng thời, nó cũng phụ thuộc vào các yếu tố nội tại trong tương tác lời nói như sự nắm vững ngôn ngữ, khẩu khí, âm lượng của cá nhân. Cũng như vị thế xã hội, “vị thế giao tiếp cũng có mạnh, có yếu.
Người nào trong cuộc hội thoại nắm quyền chủ động nêu đề tài diễn ngôn,lái cuộc thoại theo hứng của mình, điều hành cuộc nói năng của những người cùng giao tiếp với mình… thì người đó ở vị thế giao tiếp mạnh. Vị thế giao tiếp có thể thương lượng và chuyển giao từ người này sang người kia” [ 9] b. Quan hệ thân hữu Quan hệ thân hữu là một loại quan hệ giao tiếp giữa trên mức độ gắn bó giữa những nhân vật giao tiếp. Mức độ gắn bó lại thường được thương lượng trong giao tiếp.
Mức độ gắn bó là nhân tố bên trong đối với giao tiếp, có thể xảy ra khi khoảng cách xã hội ban đầu thay đổi và được đánh dấu trong quá trình giao tiếp. Sự rút ngắn khoảng cách giao tiếp được thể hiện khá rõ trong câu: Sáng chú, chiều anh, tối chúng mình. Lịch sự trong giao tiếp Trong giao tiếp, ngoài các quy tắc ngôn ngữ còn có một số các quy tắc khác xuất phát từ các quy ước xã hội, như quy tắc thẩm mĩ, quy tắc đạo đức v.v… trong đó có quy tắc lịch sự trong giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp, người ta thường có các hành động ngôn ngữ có tính đe dọa thể diện của đối tác.
Nguyên tắc lịch sự đòi hỏi chúng ta không thực hiện các hành động đó hoặc tìm cách giảm nhẹ tính đe dọa bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau. Không đe dọa thể diện của đối tác là một nguyên tắc tối cao trong giao tiếp. Lịch sự luôn gắn liền với chuẩn mực xã hội. Theo Nguyễn Thiện Giáp [18, tr.100] “Lịch sự là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội.
Nó có tác động chi phối không những đối với quá trình giao tiếp mà cả đối với kết 14 quả giao tiếp. Nhiều người nghiên cứu ngữ dụng học coi lịch sự như một nguyên tắc giao tiếp bên cạnh nguyên tắc hợp tác trong hội thoại và gọi là nguyên tắc lịch sự”. Các nhà văn hóa thuộc nhiều dân tộc khác nhau đã quan niệm lịch sự là hành vi xã hội có lễ độ hay là phép xã giao trong phạm vi văn hóa. Lí thuyết của Lakoff và Leech Quan điểm về lịch sự của R.
Lakoff nêu ra ba nguyên tắc lịch sự: - Quy tắc lịch sự quy thức: “Đó là quy tắc : Không được áp đặt. Quy tắc này thích hợp với những ngữ cảnh trong đó giữa những người tham gia tương tác có những khác biệt về quyền lực và cương vị. - Quy tắc lịch sự phi quy tắc: “ Đó là quy tắc dành cho người đối thoại sự lựa chọn. Đó là quy tắc thích hợp với những ngữ cảnh trong đó người tham gia có quyền lực và cương vị gần tương đương nhau nhưng không gần gũi về quan hệ xã hội.259] - Quy tắc về phép lịch sự bạn bè hay thân tình: Đó là quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè.
257-258] Quan điểm về lịch sự của G. Leech nêu các phương châm lịch sự được xây dựng trên khái niệm tổn thất (cost) và lợi ích (benefit): - Phương châm khéo léo: Giảm thiểu tổn thất và tăng tối đa lợi ích cho người. - Phương châm rộng rãi: Giảm thiểu lợi ích cho ta và tăng tối đa tổn thất cho ta. - Phương châm tán thưởng: Giảm thiểu sự chê bai đối với người, tăng tối đa khen ngợi người.
15 - Phương châm khiêm tốn: Giảm thiểu khen ngợi ta, tăng tối đa sự chê bai ta. - Phương châm tán đồng : Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người, tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người. - Phương châm thiện cảm: Giảm thiểu cái ác giữa ta và người, tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người.262] Tóm lại, Leech đã đưa ra siêu quy tắc lịch sự: “Hãy giảm thiểu biểu hiện của những niềm tin không lịch sự, hãy tăng tối đa biểu hiện của những niềm tin lịch sự. 2 Lí thuyết của Brown và Levinson Đây được xem là lý thuyết nhất quán nhất, có ảnh hưởng rộng rãi nhất và có hiệu quả nhất đối với việc nghiên cứu về phép lịch sự.
Brown và Levinson là hai tác giả nổi tiếng có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu về lịch sự. Theo Brown và Levinson, phép lịch sự trong giao tiếp hội thoại liên quan đến thể diện của người nói và người nghe trong giao tiếp. “Thể diện là hình ảnh bản thân trước công chúng của một cá nhân, nó liên quan đến ý thức xã hội và tình cảm mà mỗi cá nhân có và mong muốn người khác tri nhận.104] Ví dụ: A: Cuối tuần em phải đi ăn cưới cái Thanh rồi, em đang cần mua gấp một bộ đồ đẹp đẹp để diện mà gu thẩm mĩ của em thì dở tệ, chả biết nên mặc thế nào đây, tối chị đi cùng rồi chọn giúp em một bộ nha. B: Úi xời, chuyện nhỏ như con thỏ.
Hay đi bây giờ luôn đi, chị cũng đang rảnh đây. Để đạt được hiệu quả nhờ vả cao nhất, A đã đưa ra lời giải thích cho B thấy rằng do chưa có đủ khả năng thực hiện hành động “chọn một bộ đồ đẹp” 16 nên rất cần sự giúp đỡ của B. Qua hành vi rào đón nêu lí do về năng lực, khả năng của chính bản thân mình, A cũng đã ngầm thể hiện sự tin tưởng vào khả năng, năng lực của B và lúc này thể diện của B cũng được tôn vinh Thể diện gồm hai phương diện: Thể diện dương tính và thể diện âm tính hay còn gọi là thể diện tích cực và thể diện tiêu cực. - Thể diện âm tính của một người là nhu cầu dược độc lập, được tự do hành động và không bị người khác áp đặt.
Như vậy, một hành động giữ thể diện hướng vào thể diện âm tính của một người sẽ phải thể hiện sự tôn trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng của thời gian và quan hệ của người khác, thậm chí bao gồm cả việc xin lỗi về sự áp đặt hoặc làm gián đoạn.106] - Ngược lại, thể diện dương tính của một người là nhu cầu được người khác chấp nhận, thậm chí được người khác yêu mến, đối xử như người cùng nhóm, nói cách khác thể diện dương tính là nhu cầu được quan hệ. Như vậy, một hành động giữ thể diện hướng vào thể diện dương tính của một người khác sẽ phải thể hiện tình đoàn kết, nhấn mạnh nguyện vọng chung, mục đích chung của hai người.106-107] Bên cạnh thể diện - một nhu cầu trong giao tiếp - thì ngược lại cũng có hành động đe dọa thể diện.