CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI I. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ 1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ Bản chất hành động của ngôn ngữ chưa được ngôn ngữ học tiền ngữ dụng phát hiện ra. Mãi đến những năm 60 của thế kỷ XX, J.
Các ông cho rằng ngôn ngữ, bên cạnh việc dùng để thông báo hoặc miêu tả nội dung nào đó, nó còn được dùng để thực hiện một hành động nào đó. Chẳng hạn như: cám ơn, thông báo, hứa, thề, xin lỗi,.Các hành động được thực hiện bằng lời gọi là hành động ngôn ngữ (hành vi ngôn ngữ) (speech act). Theo Austin hành vi ngôn ngữ là thể thống nhất của 3 hành vi : - Hành vi tạo lời (locutionary act) là hành vi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) của một ngôn ngữ để cấu tạo nên phát ngôn. Mỗi hành vi tạo lời đã tạo ra một nội dung mệnh đề và một ý nghĩa xác định.
- Hành vi ở lời (illocutionary act) là hành vi được thực hiện ngay khi ta phát ra câu nói. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Các hành vi ở lời được chi phối bởi những quy tắc đã được xã hội ước chế. Vì vậy, có những điều kiện dùng cho mỗi loại hành động tại lời.
- Hành vi mượn lời (perlocutionary act) là hành vi mà người nói tác động đến tâm lý, tình cảm, cảm xúc, hành vi của người tiếp nhận nghĩa là hành động gây được hiệu quả ở người nghe. Hiệu quả đó chỉ dành riêng cho hoàn cảnh phát ngôn mà thôi. Phân loại hành vi ngôn ngữ - Các nhà ngôn ngữ có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại hành vi ngôn ngữ như của: D. Ở đây tôi xin đưa ra hướng phân loại của J.
Nhà triết học người Anh - J. Austin (1911 - 1960) là người có công đầu tiên trong việc xây dựng lý thuyết Hành vi ngôn ngữ. Austin là John R.Searle, nhà triết học ngôn ngữ người Mĩ, đã tiếp tục phát triển lý thuyết hành vi ngôn ngữ. Các công trình viết về Ngữ dụng học vẫn chịu nhiều ảnh hưởng từ quan điểm của Austin và Searle.
Cách phân loại hành vi ngôn ngữ của Austin Austin đã phân loại hành vi ngôn ngữ thành 5 phạm trù. Đó là : - Phán xử (verdictives, verditifs): Đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên 4 hoặc dựa vào lí lẽ vững chắc như: hành động tuyên án, đánh giá, xếp loại, kết luận. - Hành xử (exercitives, exercitifs): Đây là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, chỉ huy, biện hộ cho, khẩn cầu, van xin… và các hành vi ngôn ngữ như: bổ nhiệm, đặt tên, tuyên bố khai mạc, bế mạc, cảnh cáo, tuyên ngôn. - Cam kết (commissives, commissifs): những hành vi này ràng buộc người nói vào một chuỗi những hành động nhất định như: hành động hứa, cam kết, thề nguyền, thông qua các quy ước, tham gia một phe nhóm.
- Trình bày (expositives, expositifs): những hành vi này được dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng định, phủ định, chối, dẫn thí dụ, chuyển dạng lời, phản bác,. - Hành động ứng xử (behabitives, comportementaux) đây là những hành vi phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác như : xin lỗi, cám ơn, chúc mừng, trách, khen. Cách phân loại hành vi ngôn ngữ của Searle Cách phân loại của Searle có bước tiến so với cách phân loại của Austin vì ông đã đưa ra tiêu chí xác định có quan hệ chặt chẽ với nhau để phân loại các hành động ngôn từ. Searle đã đưa ra 12 tiêu chí, trong đó có 4 tiêu chí quan trọng, đó là: đích ở lời (the point of the illocutionary), hướng khớp ghép lời với hiện thực (direction of fit), trạng thái tâm lý được biểu hiện (expressed psychological states) và nội dung mệnh đề (propositional content).
Dựa vào 4 tiêu chí này, Searle đã phân lập được 5 loại hành vi ở lời như sau: - Tái hiện (representatives) như: khẳng định, tường thuật, giải thích,. - Điều khiển (directives) như: cầu khiến, ra lệnh, van nài, đề nghị, cảnh báo… - Cam kết (commissives) như : hứa, thề, cam đoan, cho, tặng, biếu… - Biểu cảm (expressives) như : cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng,. - Tuyên bố (declarations ) như : tuyên bố, báo cáo,. Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi 1.
Phát ngôn ngữ vi Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khi người ta nói chúng ra thì đồng thời người ta thực hiện ngay cái việc được biểu thị trong phát ngôn [1, 87 - 88]. “Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn thể hiện những hành vi ngôn ngữ” [2, 47]. Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn - sản phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó.
Kết cấu lõi đó gọi là biểu thức ngữ vi [1, 91]. Biểu thức ngữ vi Biểu thức ngữ vi là một thể thức nói năng cốt lõi do các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời kết hợp với (hoặc không có) nội dung mệnh đề đặc trưng cho một hành vi ở lời nào đó. Biểu thức ngữ vi vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của một hành động ở lời [3;60]. Theo Đỗ Hữu Châu, mỗi biểu thức ngữ vi được đánh dấu bằng các dấu hiệu chỉ dẫn, Searle gọi các dấu hiệu này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force indicating devices – IFDIs).
Các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời gồm: các kiểu kết cấu, những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi, ngữ điệu, quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể tạo nên nội dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh và các động từ ngữ vi [1, 92 - 94]. Như vậy, căn cứ vào biểu thức ngữ vi ta có thể nhận diện được các hành vi ngôn ngữ mà người nói thực hiện. Ví dụ: Biểu thức ngữ vi đặc trưng cho hành vi hỏi là : “có. Biểu thức ngữ vi có động từ dùng trong chức năng ngữ vi là biểu thức ngữ vi tường minh.
Biểu thức ngữ vi không có động từ ngữ vi là biểu thức ngữ vi nguyên cấp hay biểu thức ngữ vi hàm ẩn. Động từ ngữ vi Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị [1, 97]. Động từ ngữ vi một phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời đặc biệt, đánh dấu cho một số biểu thức ngữ vi tường minh. Động từ ngữ vi chỉ được dùng trong chức năng ngữ vi (có hiệu lực ngữ vi) khi trong phát ngôn nó được dùng ở ngôi thứ nhất thời hiện tại (thời điểm phát ngôn của người nói được thực hiện), thể chủ động và thức thực thi [1, 98].
Điều kiện sử dụng các hành vi ngôn ngữ Mỗi hành vi ngôn ngữ đòi hỏi những điều kiện nhất định. Searle gọi đó là những quy tắc để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của nó. Có những điều kiện sau đây: a) Điều kiện nội dung mệnh đề: quy định những điều kiện cần thiết, cụ thể cho việc thực hiện hành vi ngôn ngữ. Chẳng hạn hành động cảnh báo thì nội dung phát ngôn phải nói về một sự kiện tương lai.
b) Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói, người nghe. Ví dụ: khi ra lệnh, người nói phải tin rằng người nhận lệnh có khả năng thực hiện hành động quy định trong lệnh, đồng thời biết rằng giữa người nói và người nhận có vị thế xã hội có lợi cho người nói. 6 c) Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn. Chẳng hạn: khi hứa phải thực hiện lời hứa, thông báo điều gì đó phải đúng sự thật… d) Điều kiện căn bản: đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời được phát ra.
Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện hoặc đối với tính chân thực của nội dung. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp 1. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp - Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là hành vi được thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng, đúng với đích ở lời của chúng. Nói cách khác, đó là hành vi mà phát ngôn chứa nó có sự tương ứng giữa cấu trúc hình thức với hiệu lực ở lời của chính hành động đó.
Cụ thể: - Kiểu câu trình bày được dùng với chức năng diễn tả sự việc (chức năng biểu hiện). - Kiểu câu nghi vấn được dùng với chức năng hỏi. - Kiểu câu cầu khiến được dùng với chức năng điều khiển. - Kiểu câu cảm thán được dùng với chức năng bộc lộ cảm xúc.
Ví dụ: Phát ngôn “Đóng giúp tôi cái cửa lại” được dùng với chức năng yêu cầu ai đó đóng cửa lại thì nó là một hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp Theo Đỗ Hữu Châu, trong giao tiếp ngôn ngữ, người giao tiếp sử dụng bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả cho một hành vi ở lời khác, đó là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp. Một hành vi được sử dụng theo gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác [1, 146]. Ví dụ: SP1: Chúng tôi tin hai bạn sẽ là nhịp cầu nối để chiếc cầu tiếp tục vươn xa và để trường ta tiếp tục toả sáng SP2: Chúng em xin cảm ơn thầy cô! Ở ví dụ trên hành vi chúc đã được SP1 (người nói) sử dụng theo lối gián tiếp.