Tài liệu Y tế: Đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non

Tài liệu nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng tại bệnh viện sản nhi bắc ninh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2018

62
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Định nghĩa và Phân loại Suy Hô Hấp ở Trẻ Sơ Sinh Non Tháng

Suy hô hấp là một tình trạng suy giảm đáng kể khả năng trao đổi khí của hệ hô hấp, biểu hiện bằng sự giảm oxy máu (hypoxemia) và/hoặc tăng CO2 máu (hypercapnia). Đây là một trong những cấp cứu thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sơ sinh non tháng. Tại Mỹ, có khoảng 10% trẻ sơ sinh non tháng bị suy hô hấp, trong đó có tới 50% là trẻ có tuổi thai dưới 28 tuần. Trẻ càng non tháng, nguy cơ mắc suy hô hấp càng cao, với trẻ sơ sinh có tuổi thai dưới 29 tuần có nguy cơ lên đến 60%. Bệnh thường xuất hiện sớm sau đẻ và tiến triển nặng dần lên trong vòng 24 giờ sau sinh.

1.1. Khái niệm Suy Hô Hấp

Suy hô hấp là hội chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do bệnh lý tại cơ quan hô hấp hoặc các cơ quan khác. Tình trạng này được đặc trưng bởi sự giảm đáng kể khả năng trao đổi khí, dẫn đến hypoxemia và hypercapnia. Hội chứng này đòi hỏi can thiệp y tế kịp thời để tránh các biến chứng nặng nề.

1.2. Phân Loại theo Tuổi Thai

Trẻ sơ sinh non tháng được phân loại dựa trên tuổi thai tại thời điểm sinh. Trẻ sinh dưới 28 tuần có nguy cơ suy hô hấp cao nhất với tỷ lệ lên đến 50%. Nhóm tuổi thai 29-32 tuần cũng có nguy cơ cao, đạt 60%. Sự phân loại này giúp dự đoán tiên lượng bệnh và xác định mức độ can thiệp y tế cần thiết.

II. Đặc Điểm Lâm Sàng Suy Hô Hấp

Các triệu chứng lâm sàng của suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng thay đổi theo mức độ nặng nhẹ. Trẻ thường biểu hiện khó thở, tachypnea (tần số thở nhanh), retraction (rút lõm thành ngực), nasal flare (giãn lỗ mũi), và grunt (tiếng kêu từ phổi). Tình trạng ngạt sau sinh được đánh giá qua điểm Apgar, phản ánh tình trạng sinh tồn của trẻ. Mức độ suy hô hấp có thể nhẹ, trung bình hoặc nặng, tùy thuộc vào nguyên nhân gốc rễ. Các dấu hiệu lâm sàng cần được ghi nhận chi tiết khi trẻ nhập viện để hướng dẫn quá trình điều trị.

2.1. Triệu Chứng Lâm Sàng Chính

Khó thở và tachypnea là những triệu chứng sớm nhất. Trẻ thường có rút lõm thành ngực, giãn lỗ mũi, và cơ phụ trợ hô hấp hoạt động mạnh. Grunt (tiếng kêu guttural) là dấu hiệu của trẻ cố gắng duy trì áp lực dương cuối thì thở để ngăn các phế nang suy xẹp. Những triệu chứng này phát triển nhanh chóng và có thể tiến triển thành suy hô hấp nặng.

2.2. Điểm Apgar và Mức Độ Nặng

Điểm Apgar được ghi nhận ở phút 1 và phút 5 sau sinh, đánh giá tình trạng sinh tồn của trẻ. Điểm Apgar thấp (dưới 7) thường liên quan đến suy hô hấp nặng hơn. Mức độ suy hô hấp (nhẹ, trung bình, nặng) phụ thuộc vào mức độ hypoxemia, hypercapnia, và phản ứng lâm sàng của trẻ.

III. Đặc Điểm Cận Lâm Sàng

Cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và đánh giá mức độ suy hô hấp. Khí máu động mạch là xét nghiệm chính yếu, cho phép đo áp lực riêng phần oxy (PaO2) và áp lực riêng phần CO2 (PaCO2), giúp xác định loại suy hô hấp (Type I: hypoxemia, Type II: hypercapnia). Base Excess (BE) và độ pH máu cung cấp thông tin về trạng thái acid-base. X-quang ngực giúp nhận diện các bệnh lý như hội chứng suy hô hấp sơ sinh (RDS), viêm phổi, hoặc xẹp phổi. Siêu âm tim được chỉ định để loại trừ các bệnh lý tim bẩm sinh.

3.1. Xét Nghiệm Khí Máu Động Mạch

Khí máu động mạch cung cấp thông tin chi tiết về trạng thái oxy hóaloại suy hô hấp. PaO2 thấp (<50 mmHg) chỉ hypoxemia nặng, trong khi PaCO2 cao (>55 mmHg) cho thấy thất bại trong thông khí. pH thấpBase Excess âm báo hiệu acidosis do thiếu oxy hoặc tích tụ CO2, cần can thiệp y tế cấp cứu.

3.2. Hình Ảnh X Quang và Siêu Âm

X-quang ngực là công cụ chẩn đoán hình ảnh chính, giúp phát hiện hội chứng suy hô hấp, xẹp phổi, viêm phổi, hoặc aspirate meconium. Mô hình sọc thanh trên X-quang là đặc trưng của RDS. Siêu âm tim được thực hiện khi nghi ngờ bệnh lý tim bẩm sinh hoặc ductus arteriosus mở, giúp điều chỉnh chiến lược điều trị.

IV. Nguyên Nhân và Yếu Tố Liên Quan

Nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng rất đa dạng và thường liên quan đến mức độ non tháng. Hội chứng suy hô hấp sơ sinh (RDS) do thiếu surfactant là nguyên nhân phổ biến nhất. Các yếu tố như cân nặng khi sinh, cách sinh (sinh thường vs mổ lấy thai), tình trạng nước ối (meconium, máu), và giới tính (con trai có nguy cơ cao hơn) đều ảnh hưởng đến tình trạng suy hô hấp. Chu kỳ nhập viện có mối liên hệ chặt chẽ với độ tuổi thai, những trẻ càng non tháng càng có nguy cơ cao. Những thông tin này cần được ghi nhận chi tiết trong hồ sơ bệnh án để hỗ trợ chẩn đoán chính xáclập kế hoạch điều trị.

4.1. Nguyên Nhân Chính của Suy Hô Hấp

Hội chứng suy hô hấp sơ sinh (RDS) là nguyên nhân phổ biến nhất, đặc biệt ở trẻ sinh dưới 32 tuần. Nguyên nhân khác bao gồm viêm phổi sơ sinh, aspiration meconium, xẹp phổi, và bệnh lý tim bẩm sinh. Yết đa kinh tếtình trạng đẻ khó cũng có thể dẫn đến suy hô hấp nặng.

4.2. Yếu Tố Nguy Cơ và Đặc Điểm Sinh Học

Cân nặng khi sinh dưới 1500g là yếu tố nguy cơ quan trọng. Cách sinh mổ có liên quan đến tỷ lệ RDS cao hơn so với sinh thường. Con trai có nguy cơ suy hô hấp cao hơn con gái 20-30%. Nước ối bẩn (chứa meconium hoặc máu) cho thấy tình trạng stress trong tử cung, báo hiệu suy hô hấp nặng hơn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy hô hấp(SHH) là một tình trạng suy giảm đáng kể khả năng trao đổi khí của hệ hô hấp, biểu hiện bằng sự giảm oxy máu (hypoxemin) và/hoặc tăng CO2 máu (hypercapnia). Đây là một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do bệnh lý tại cơ quan hô hấp hoặc các cơ quan khác. SHH là một trong những cấp cứu thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh đặc biệt là trẻ sơ sinh non tháng. Tại Mỹ có khoảng 10% trẻ sơ sinh non tháng bị SHH, trong đó có tới 50% là trẻ có tuổi thai dưới 28 tuần[31].

Trẻ càng non tháng, nguy cơ mắc SHH càng cao, trẻ sơ sinh có tuổi thai dưới 29 tuần có nguy cơ mắc SHH lên đến 60% [26]. Bệnh thường xuất hiện sớm sau đẻ với biểu hiện ở các mức độ khác nhau, và thường tiến triển nặng dần lên trong vòng 24 giờ sau đẻ, có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời [26]. Ở trẻ sơ sinh, đặc biệt ở trẻ đẻ non, tỉ lệ tử vong ở những ngày đầu sau sinh chủ yếu là do SHH. Theo Nguyễn Thị Kiều Nhi và cộng sự (CS) nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế cho thấy tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh non tháng là 67,4%, trong đó tử vong do SHH chiếm 12,5% [13].

SHH ở trẻ sơ sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, theo các nghiên cứu gần đây, các nguyên nhân gây SHH thường gặp nhất là bệnh màng trong (BMT), tiếp theo đó là chậm tiêu dịch phổi, hội chứng hít phân su, các bệnh lý tim bẩm sinh và các nguyên nhân thần kinh,…[10]. Trước đây, do những hạn chế trong việc điều trị, nên tỉ lệ tử vong do SHH rất cao, hoặc để lại những di chứng nặng nề cho trẻ như loạn sản phổi, xuất huyết não - màng não. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, có rất nhiều phương pháp đã giúp cải thiện tình trạng SHH của trẻ, làm giảm được tỉ lệ tử vong cũng như các yếu tố nguy cơ trong việc điều trị SHH, như phương pháp thở máy với áp lực dương (CPAP), liệu pháp Surfactant,… Cùng với đó, đời sống xã hội ngày một cải thiện, đa số các bà mẹ trong quá 1 Dac.2017 trình mang thai cũng được tập huấn, tầm soát sớm các yếu tố nguy cơ, qua đó làm giảm tỉ lệ đẻ non, giảm tỉ lệ mắc SHH sơ sinh. Tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, hàng năm có hàng ngàn trẻ sơ sinh nhập viện, trong đó tỉ lệ trẻ sinh non tháng có hội chứng SHH chiếm tỉ lệ rất cao.

Điều này không chỉ gặp riêng tại Bắc Ninh mà còn là tình trạng bệnh lý chung ở trẻ sơ sinh non tháng ở nhiều địa phương khác của Việt Nam. Để giảm tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong ở trẻ có SHH cần xác định và xử trí kịp thời được các triệu chứng điển hình và các yếu tố nguy cơ một cách nhanh chóng. Để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm tỉ lệ tử vong do SHH ở trẻ đẻ non tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh năm 2017” với hai mục tiêu: 1. Xác định nguyên nhân của suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng.

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng.2017 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Định nghĩa và phân loại trẻ sơ sinh non tháng Định nghĩa trẻ sơ sinh non tháng: Trẻ đẻ non là trẻ ra đời trước thời hạn bình thường trong tử cung, có tuổi thai dưới 37 tuần và có khả năng sống được. Trẻ có khả năng sống được là trẻ được sinh ra sống từ 22 tuần tuổi hoặc cân nặng ít nhất là 500 gram (WHO) [2,3]. Phân loại trẻ sơ sinh non tháng theo tuổi thai: dựa vào kỳ kinh cuối hoặc đánh giá dựa trên bảng điểm New Ballard (phụ lục 3) tính theo tuần, chia làm 3 nhóm [25]: • Dưới 30 tuần.

Đặc điểm sinh lý hệ hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng 1. Quá trình hình thành và phát triển phổi ở trẻ sơ sinh Hệ hô hấp của thai bắt nguồn từ mặt trước của ống tiêu hóa nguyên thủy ở tuần thứ 3,4 tạo thành rãnh thanh khí quản và tiếp tục phát triển. Giai đoạn hình thành cấu trúc hệ hô hấp gồm 5 giai đoạn: giai đoạn phôi thai (4 - 6 tuần), giai đoạn tuyến (7- 16 tuần), giai đoạn hình ống tuyến (17 - 27 tuần), giai đoạn túi (28 - 35 tuần), giai đoạn phế nang (từ 36 tuần tuổi thai đến 3 tuổi)[12].2017 Thời kỳ phôi thai Thời kỳ thai nhi Phế nang Túi Hình ống tuyến Tuyến Phôi Tuần Hình 1: Phôi thai học của hệ hô hấp [trích dẫn từ 22] Các phế nang dần biệt hóa và trưởng thành về mặt cấu trúc, chức năng, đảm bảo cho cử động hô hấp. Để duy trì sức căng bề mặt của phế nang sau cử động hô hấp đầu tiên cần phải có đủ chất surfactant - chất diện hoạt, làm giảm sức căng bề mặt phế nang [43].

Đặc điểm sinh lý hệ hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng Đặc điểm chung của trẻ sơ sinh non tháng là chức năng của các cơ quan, bộ phận chưa phát triển hoàn chỉnh. Sự thiếu sót về sự trưởng thành của các hệ cơ quan trong cơ thể nói chung và hệ hô hấp nói riêng dẫn đến khả năng thích nghi của trẻ với môi trường bên ngoài tử cung kém hơn.Ở trẻ non tháng, trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh, bất kỳ tình trạng nào gây thiếu oxy máu, dẫn đến nồng độ CO2 máu tăng cao đều có thể ức chế trung tâm hô hấp, gây rối loạn nhịp thở, thở rên, thở không đều, kiểu Cheyne - Stock, thời gian ngừng thở dài (7- 10 giây). Tình trạng này có thể kéo dài 2 - 3 tuần sau sinh hoặc lâu hơn tùy mức độ non tháng [5]. Do phổi ở trẻ đẻ non chưa trưởng thành cả về mặt cấu trúc và chức năng nên rất dễ chấn thương do áp lực, thể tích khi thở máy hay tổn thương do quá trình viêm [1,34].

Ở phổi của trẻ non tháng, tổ chức liên kết phát triển mạnh hơn, tổ chức đàn hồi ít do đó làm phế nang khó giãn nở, khoảng cách khuếch tán khí thì xa do cách biệt với các mao mạch nên sự trao đổi khí càng 4 Dac. Thể tích khí trong phổi của trẻ non tháng thấp (20- 40 ml/kg) so với trẻ đủ tháng (50 ml/kg) và người lớn (80 ml/kg). Lồng ngực trẻ đẻ non hẹp, xương sườn mềm dễ biến dạng, cơ liên sườn chưa phát triển giãn nở kém cũng làm hạn chế di động của lồng ngực [5,34]. Hội chứng suy hô hấp ở trẻ đẻ non.

Khái niệm SHH là tình trạng suy giảm đáng kể khả năng trao đổi khí của hệ hô hấp, biểu hiện bằng sự giảm oxy máu (hypoxemin) và/hoặc tăng CO2 máu (hypercapnia). Đây là một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do bệnh lý tại cơ quan hô hấp hoặc các cơ quan khác. Trong đó, BMT là nguyên nhân hàng đầu, do thiếu tổng hợp Surfactant [20]. Hội chứng SHH ở trẻ đẻ non được mô tả lần đầu tiên vào năm 1903 bởi nhà vật lý học người Đức Hochheim, mãi đến năm 1947, Gruenwand - một nhà bệnh lý học người Mỹ, thông qua các nghiên cứu ở bệnh nhân tử vong do BMT đã đưa ra nhận xét xẹp phổi là vấn đề quan trọng của BMT và ông đã mặc nhiên công nhận việc bổ sung hoạt chất bề mặt có thể làm giảm tình trạng SHH [39].

Đến năm 1959, Avery và Mead đã chỉ ra bệnh sinh của bệnh là do giảm sức căng bề mặt phế nang và thiếu chất surfactant trong lòng phế nang [24]. Giải phẫu tử thi ở trẻ tử vong do BMT (BMT) cho thấy phế nang trẻ bị xẹp, huyết tương tràn vào phế nang, chất fibrin của huyết tương lắng đọng phía trong các phế nang, tiểu phế quản tạo thành một lớp màng gọi là màng trong[21,33,39]. Ngày nay người ta vẫn gọi tên bệnh là BMT song song với tên gọi SHH ở trẻ đẻ non để nhớ công lao của những thầy thuốc đầu tiên tìm ra bệnh. Dịch tễ học Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến SHH và tử vong ở trẻ đẻ non là BMT.

Tỉ lệ mắc bệnh thay đổi tuỳ từng nước. Tại Mỹ có khoảng 10% trẻ sơ sinh non tháng bị SHH, trong đó có tới 50% là trẻ có tuổi thai dưới 28 tuần[30].2017 Trẻ càng non tháng, nguy cơ mắc SHH càng cao. Trẻ sơ sinh có tuổi thai dưới 29 tuần có nguy cơ mắc SHH lên đến 60% và có liên quan đến BMT[3]. Tại Ấn Độ, một số nghiên cứu cho thấy BMT chiếm 6,8 - 14,1% trẻ đẻ non sống, trong đó những trẻ có tuổi thai 29 - 30 tuần chiếm 32% [37].

Các nguy cơ khác như gia đình có trẻ đã bị SHH, trẻ sinh mổ khi chưa có chuyển dạ, trẻ sinh ra từ các bà mẹ đái tháo đường, trẻ bị ngạt, viêm ối - màng ối [30]. Tại Việt Nam, tỉ lệ SHH cấp ở trẻ sơ sinh non tháng là khá cao và BMT cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Theo Nguyễn Thị Kiều Nhi và CS nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế cho thấy tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh non tháng là 67,4%, trong đó tử vong do SHH cấp chiếm 12,5% [13]. Theo Nghiên cứu của Phạm Văn Dương và CS nghiên cứu tình hình trẻ em tử vong trước 24 giờ tại Hải Phòng cho thấy tỉ lệ tử vong do BMT là 8,24% [8].

Nguyên nhân suy hô hấp ở trẻ đẻ non [10,20,26,31] 1. Một số nguyên nhân suy hô hấp thường gặp Bệnh màng trong Bệnh màng trong (BMT) là một nguyên nhân tại phổi và là một trong những nguyên nhân hàng đầu. BMT chiếm 0,5 - 1% trẻ sơ sinh sống tại Pháp, tỉ lệ thay đổi theo tuổi thai, chiếm 80% ở trẻ dưới 28 tuần và 5% ở trẻ trên 32 tuần [trích dẫn từ 8]. Còn ở các nước Châu Á như Ấn Độ, tỉ lệ BMT chiếm 6,8 -14,1% trẻ sơ sinh non tháng, trong đó những trẻ có tuổi thai 29 - 30 tuần chiếm 32% [35,37,44].

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Phạm Văn Dương và CS nghiên cứu tình hình trẻ em tử vong trước 24 giờ tại Hải Phòng cho thấy tỉ lệ tử vong do BMT là 8,24% [8]. BMT xảy ra do thiếu hụt chất hoạt động bề mặt surfactant ở phổi do phế bào type II tiết ra. Hiện nay, sinh bệnh học BMT được các tác giả thống nhất có liên quan đến hai yếu tố là đẻ non và thai ngạt trong tử cung. Cơ chế bệnh sinh của BMT theo Farell.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ