CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình ung thư vú Ung thư vú là căn bệnh chủ yếu gặp ở phụ nữ. Trên thế giới, trong số các loại ung thư thì ung thư vú có tỷ lệ tử vong đứng thứ hai, chỉ sau ung thư phổi. Ước tính trên toàn cầu, cứ 22 giây thì có 1 người bị chẩn đoán mắc bệnh, và mỗi 5 phút, có 3 phụ nữ qua đời vì ung thư vú.
Trung bình mỗi năm, trên toàn thế giới có trên 1,3 triệu phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư vú, trong đó có hơn 460.000 người tử vong vì căn bệnh này. Đặc biệt là tại châu Á, số bệnh nhân ung thư vú tăng đột biến. Số ca mắc ung thư vú tăng hàng năm ở châu Á là 3% trong khi ở các châu lục khác chỉ là 0,5% [77]. Tại Việt Nam, ung thư vú hiện chiếm đến 21% trường hợp ung thư xảy ra ở phụ nữ, hiện nằm trong top 5 các bệnh ung thư thường gặp và dự đoán sẽ vươn lên đứng đầu.
Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những nơi có tỷ lệ ung thư vú cao nhất nước.000 phụ nữ ở Hà Nội thì có 30 người mắc ung thư vú, tại thành phố Hồ Chí Minh con số này là 20 [74]. So sánh tỷ lệ mắc ung thư vú /100.000 dân ở Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội năm 1996 và 2008: tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này là 12,2 (năm1996) đã tăng lên đến 19,4 (năm 2008); tại Hà Nội tỷ lệ này là 26,7 (năm 1996) đã tăng lên đến 29,7 (năm 2008). Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 11.000 ca tử vong do ung thư vú [74]. So sánh với các nước, tỉ lệ mắc ung thư vú tại Việt Nam thấp hơn (23/100.000 dân) nhưng xu hướng gia tăng lại nhanh hơn, giai đoạn phát hiện bệnh trễ hơn (thường đến ở giai đoạn muộn) và lứa tuổi thường gặp cũng trẻ hơn.
Thường độ tuổi mắc bệnh ung thư vú nhiều là trên 60 tuổi, còn dưới 40 chỉ chiếm khoảng 3,2% như Canada hay 4,5% như Mỹ (bởi ung thư vốn là bệnh lý liên quan đến lão hóa). Trong khi, theo nghiên cứu của bệnh viện Ung bướu 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Phạm Thị Huyền – Cao học K24 thành phố Hồ Chí Minh, độ tuổi mắc ung thư vú dưới 40 là 11,9%, thấp hơn Hàn Quốc (12,5%) [74]. Bên cạnh đó, tình trạng phát hiện trễ tại Việt Nam do nhiều yếu tố như trở ngại tâm lý, kinh tế khó khăn, thiếu kiến thức về bệnh dẫn đến khó khan trong chẩn đoán và điều trị. Nếu phát hiện trễ, chỉ 1 trong 5 phụ nữ bị ung thư vú đã di căn sống thêm được 5 năm sau chẩn đoán.
Các yếu tố nguy cơ Hiện nay, những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới ung thư vú vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Trong đó, yếu tố do tiểu sử gia đình chiếm xấp xỉ 5 đến 7% số trường hợp ung thư vú [31]. Phụ nữ có mẹ, chị hoặc con gái mắc ung thư vú có nguy cơ mắc bệnh cao gấp hai đến bốn lần người bình thường [30]. Hầu hết các trường hợp di truyền đều liên quan đến hai gen BRCA1 và BRCA2.
Ngoài ra còn một số gen khác khi bị sai hỏng cũng gây nguy cơ cao mắc ung thư vú như ATM, P53, CHEK2, PTEN, CDH1. Đặc biệt, bệnh nhân ung thư vú mang đột biến ở gen BRCA1, BRCA2 có nguy cơ bị tử vong cao hơn so với những bệnh nhân ung thư vú không có đột biến [50]. Bên cạnh đó, các nghiên cứu dịch tễ học đã xác định được một số yếu tố nguy cơ ung thư vú có liên quan tới tiền sử kinh nguyệt và sinh sản, cho thấy vai trò của estrogen trong quá trình phát sinh ung thư vú. Cứ xuất hiện kinh nguyệt lần đầu chậm một năm thì giảm được 5% nguy cơ ung thư vú [42].
Ngoài ra, phụ nữ mãn kinh muộn có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn phụ nữ mãn kinh sớm, với nguy cơ mắc tăng 3% cho mỗi năm còn có kinh nguyệt [51]. Có kinh nguyệt sớm (<12 tuổi), tuổi mãn kinh muộn (>55 tuổi), vô sinh hay có con đầu lòng muộn đều làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Hơn hai phần ba số bệnh nhân mắc ung thư vú sử dụng liệu pháp hormone trong quá trình điều trị càng cho thấy rõ mối liên quan giữa estrogen và nguy cơ mắc ung thư vú. Tiếp xúc với môi trường chứa hợp chất tương tự estrogen (chẳng hạn như thuốc bảo vệ thực vật clo hữu cơ) cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ở phụ nữ [11].
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Phạm Thị Huyền – Cao học K24 Ở những nước công nghiệp phát triển thì tỷ lệ mắc ung thư vú cao hơn so với những nước công nghiệp chưa phát triển. Nguyên nhân chính là do sự tiếp xúc với các chất thải công nghiệp có khả năng tăng nguy cơ mắc ung thư ở phụ nữ [55]. Các yếu tố môi trường (tiếp xúc với chất gây ung thư, chế độ ăn uống, thói quen uống rượu bia, hút thuốc lá và béo phì) cũng được biết đến làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Tỷ lệ mắc ung thư vú cao ở các nước phương Tây có thể được giải thích một phần do chế độ ăn không hợp lý.
Chế độ ăn quá nhiều chất béo, ít rau quả và trái cây kèm theo thiếu sự luyện tập thể dục, thể thao. Trong thực tế, phụ nữ gốc châu Á sinh sống ở phương Tây có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn 60% so với người gốc châu Á sinh sống ngay tại Châu Á, do nguyên nhân chủ yếu là sự khác biệt về lối sống. Một nghiên cứu khác cho thấy rằng phụ nữ ở Trung Quốc có chế độ ăn uống giàu chất béo thì nguy cơ mắc ung thư vú cao gấp hai lần so với phụ nữ Trung Quốc có chế độ ăn ít chất béo và nhiều rau xanh [72]. Bên cạnh đó, một nhân tố khác có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú, đó là cho con bú bằng sữa mẹ.
Một nghiên cứu rộng rãi với 4.500 phụ nữ ở Mỹ cho thấy những phụ nữ cho con bú trong 2 năm hoặc lâu hơn sẽ có nguy cơ mắc ung thư vú thấp hơn tới 40% so với những phụ nữ không bao giờ cho con bú. Ngoài ra, một số nhân tố khác cũng làm tăng nguy cơ ung thư vú như đặt vòng tránh thai, chế độ ăn giàu chất béo hay sử dụng cồn [55]. Các dữ liệu cho thấy chủng tộc là một yếu tố quan trọng trong việc làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư vú (Bảng 1). Phụ nữ Hoa Kỳ, Châu Âu, Hawaii, và phụ nữ Mỹ gốc Phi có tỷ lệ mắc ung thư vú xâm lấn cao gấp bốn lần so với phụ nữ Hàn Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.
Ngoài ra, phụ nữ Mỹ gốc Phi có tỷ lệ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Phạm Thị Huyền – Cao học K24 tử vong cao nhất do ung thư vú và thường được chẩn đoán ở giai đoạn sau của bệnh hơn là phụ nữ da trắng [55]. Tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư vú ở các chủng tộc khác nhau [55] Tỷ lệ mắc Tỷ lệ chết Chủng tộc (/100.000 dân) Trung bình chung 127,8 25,5 Người da trắng 132,5 25,0 Người Mỹ gốc Phi 118,3 33,8 Châu Á 89,0 12,6 Người Mỹ gốc Ấn/ 69,8 16,1 Người Mỹ bản địa Người Nam Mỹ 89,3 16,1 1. Các giai đoạn ung thư vú Ung thư được phân chia theo các giai đoạn phát triển dựa vào kích thước, vị trí của khối u nguyên phát, mức độ xâm lấn cũng như khả năng di căn [17]. Hiện nay, hệ thống phân loại giai đoạn ung thư vú đang được sử dụng phổ biến nhất là hệ thống TNM, dựa trên kích thước khối u (Tumor), số hạch nách phát sinh (Node) và mức độ di căn (Metastasized).
Theo hệ thống phân loại này, ung thư vú, tiến triển của ung thư có thể chia thành các giai đoạn từ 0 đến IV. Giai đoạn 0 tương ứng với ung thư vú không xâm lấn, ví dụ như ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ. Giai đoạn này, các tế bào ung thư chỉ khu trú, không hề xuất hiện bất cứ một tế bào ung thư hay tế bào dị thường nào xuất hiện ngoài vùng vú, hay có biểu hiện tấn công các vùng mô lành xung quanh. Giai đoạn I tương ứng với ung thư vú xâm lấn, các tế bào ung thư bắt đầu lan tỏa và tấn công các phần mô lành của vú.
Ở giai đoạn này, sự xâm lấn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Phạm Thị Huyền – Cao học K24 mới chỉ diễn ra rất ít, chủ yếu tại các đường ống dẫn sữa. Giai đoạn I được chia làm IA, IB, trong đó, IA tương ứng với tình trạng hạch lympho không xuất hiện tế bào ung thư, IB tương ứng với tình trạng hạch lympho xuất hiện tế bào ung thư. Giai đoạn II được chia ra làm IIA và IIB. IIA mô tả ung thư xâm lấn dưới dạng khối u có kích thước nhỏ hơn 2cm, di căn hạch nách hoặc khối u có kích thước lớn hơn 2cm, không di căn hạch nách.
IIB mô tả ung thư xâm lấn dưới dạng khối u có kích thước lớn hơn 2cm và nhỏ hơn 5cm, có di căn hạch nách; hoặc khối u có kích thước lớn hơn 5cm và không di căn hạch nách. Giai đoạn III tương ứng với ung thư có di căn hạch lympho, các hạch này tập trung thành cụm hoặc gắn lên các cấu trúc khác, hoặc di căn hạch lympho gần xương ức. Giai đoạn III được chia ra làm IIIA, IIIB và IIIC. IIIA mô tả ung thư xâm lấn dưới dạng không có khối u, hoặc khối u với kích thước bất kỳ.
IIIB mô tả ung thư xâm lấn dưới dạng khối u có kích thước bất kỳ và phát triển tới thành ngực và phần da của vú. IIIC mô tả ung thư xâm lấn dưới dạng không hình thành khối u cố định ở vú, hoặc nếu có khối u thì không có kích thước cụ thể, và có thể lan tỏa đến thành ngực và/ hoặc đến da vú, đồng thời di căn hạch lympho trên hoặc dưới xương cổ và có thể di căn hạch nách.