CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG HÓA CÁC NGUỒN THU CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Khái niệm, vai trò, chức năng của các trường đại học 1. Khái niệm trường đại học Theo điều 4, Luật giáo dục đại học số 34/2018/QH14 ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2018 có nêu rõ: - “Cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng”. - “Trường đại học, học viện (sau đây gọi chung là trường đại học) là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật giáo dục đại học” Theo điều 14, Luật giáo dục đại học số 34/2018/QH14, Cơ cấu tổ chức của trường đại học bao gồm: a) Hội đồng trường đại học, hội đồng học viện (sau đây gọi chung là hội đồng trường); b) Hiệu trưởng trường đại học, giám đốc học viện (sau đây gọi chung là hiệu trưởng trường đại học); phó hiệu trưởng trường đại học, phó giám đốc học viện (sau đây gọi chung là phó hiệu trưởng trường đại học); c) Hội đồng khoa học và đào tạo; hội đồng khác (nếu có); d) Khoa, phòng chức năng, thư viện, tổ chức khoa học và công nghệ, tổ chức phục vụ đào tạo khác; đ) Trường, phân hiệu, viện nghiên cứu, cơ sở dịch vụ, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh và đơn vị khác (nếu có) theo nhu cầu phát triển của trường đại học.
Chức năng hoạt động của các trường đại học Dựa theo điều 39, luật Giáo dục 2019 số 43/2019/QH14 được ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2019 thì chức năng hoạt động của các trường đại học như sau: 8 - Đào tạo nhân lực trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế. - Đào tạo người học phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi trường làm việc; có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ Nhân dân. Như vậy, thông qua giáo dục đại học, các trường đại học cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác; những người này sẽ là những cá nhân đầy đủ năng lực có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng. Nuôi dưỡng và khích lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững, tốt đẹp của cá nhân và xã hội, và từ đó nhân rộng những thái độ và giá trị này cho cả cộng đồng.
Vai trò của các trường đại học trong nền kinh tế Giáo dục đại học nói chung thường được hiểu là bao gồm giảng dạy, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phục vụ cộng đồng, xã hội. Vai trò của các trường Đại học được thể hiện ở những khía cạnh sau: - Vai trò đào tạo: Các trường đại học là là cơ sở giáo dục đại học có chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Giáo dục đại học nói chung thường được hiểu là bao gồm giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng. Thực ra, khi phân tích kỹ quan điểm khác nhau về giáo dục đại học, chúng ta có thể kể ra nhiều vai trò khác nhau của giáo dục đại học tạ các trường đại học trong xã hội.
Giáo dục đại học tại các trường đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn. Theo đó, giáo dục đại học tại các trường đại học là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động. Như vậy giáo dục đại học tại các trường đại học trở trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của các ngành, lĩnh vực hay của cả nền kinh tế. 9 - Vai trò trong nghiên cứu: Giáo dục đại học tại các trường đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu.
Theo cách nhìn này, giáo dục đại học tại các trường đại học là thời gian để chuẩn bị tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới. Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng. Giáo dục đại học tại các trường đại học đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” (feeder system) của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết để phục vụ các công tác quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu. Một quốc gia muốn phát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh tế thì nhất thiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống giáo dục đại học và một lực lượng lao động đạt chuẩn.
Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta chính là nhờ có một hạ tầng giáo dục đại học đẳng cấp quốc tế. Giáo dục đại học tại các trường đại học luôn nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt về văn hoá xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục. - Vai trò phục vụ cộng đồng, xã hội: Một xã hội phát triển mạnh nếu như con người trong xã hộ được đào tạo bài bản, có giáo dục. Giáo dục đại học là một trong những nền giáo dục trang bị cho nhân lực kiến thức nền tảng để bước vào xã hội và cũng là nơi tạo ra nhiều con người tài năng giúp ích cho sự phát triển của xã hội.
Do đó, giáo dục đại học tại các trường đại học ngày càng trở nên quan trọng đối với sự tiến bộ xã hội, văn hoá và kinh tế của xã hội cũng như của mỗi cá nhân. Việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng phục vụ xã hội tạo tiền đề phát triển kinh tế của từng cá nhân, gia đình và cho cả xã hội (Nguồn: Luật giáo dục đại học, 2018). Nguồn thu và cơ cấu nguồn thu của các trường đại học trên thế giới Nguồn lực tài chính là một vấn đề rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển hoạt động giáo dục đại học và sự phát triển của trường đại học. Các trường đại học cần đảm bảo nguồn thu nhằm đảm bảo năng lực tài chính ổn định là cơ sở để phát triển các hoạt động của trường.
10 Về nguồn thu của các trường Đại học ở các nước trên thế giới về cơ bản là đều có nhiều nguồn thu khác nhau: (i) Nguồn Ngân sách nhà nước (NSNN) cấp; (ii) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp công; (iii) Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định; (iv) Nguồn thu khác theo pháp luật; (v) Nguồn tài chính có được từ những giao dịch tài chính của các trường ĐHCL theo quy định của pháp luật (vốn vay, vốn huy động, lãi tiền gửi ngân hàng…); (vi) Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật; (Nguồn: www. Theo thống kê của ngân hàng thế giới, các nguồn thu trên của các trường đại học trên thế giới có thể phân loại thành hai nguồn chính: (1) Hỗ trợ của Chính phủ, tài trợ của các quỹ nghiên cứu Chính phủ; (2) Các nguồn thu huy động từ tư nhân. Cụ thể: (1) Hỗ trợ của Chính phủ, tài trợ của các quỹ nghiên cứu Chính phủ: Nguồn thu từ Ngân sách Nhà nước được Chính phủ cung cấp cho các trường Đại học bằng hình thức như trợ cấp, hợp đồng đào tạo, hợp đồng nghiên cứu, mua dịch vụ và chuyển giao công nghệ. Nhiều trường đại học trên thế giới theo cơ chế tự chủ với nguồn thu từ ngân sách nhà nước chiếm một phần rất nhỏ trong nguồn thu tài chính của trường.
Ví dụ, tại trường đại học nổi tiếng Harvard, Hoa Kỳ, mức tài trợ của chính phủ, kể cả các hợp đồng nghiên cứu mà chính phủ giao cho Harvard, cũng chỉ chiếm 15% tổng thu của trường này. Vậy có thể nói, vai trò của nhà nước Hoa Kỳ đối với Harvard về mặt tài chính là không đáng kể. (2) Các nguồn khác từ chính phủ, tư nhân, quốc tế: - Nguồn từ các tổ chức mua và sử dụng dịch vụ của trường ĐH Đây là nguồn từ các tổ chức mua và sử dụng dịch vụ của trường Đại học. Tại các trường ĐH ở Châu Âu, Nguồn thu từ các tổ chức được thực hiện thông qua hình thức mua và sử dụng dịch vụ của các trường như thông qua các hợp đồng nghiên cứu và phát triển (R&D), các hợp đồng tư vấn, các hợp đồng đào tạo cho các tổ chức khác.
Các trường ĐH chủ động chuyển giao kết quả nghiên cứu hoặc thương mại hoá kết quả nghiên cứu cho các doang nghiệp. Dự án nghiên cứu là một trong những hình thức phổ biến nhất của sự hợp tác trường ĐH – các tổ chức khác, và là một trong các nguồn tài chính quan trọng nhất từ các doanh nghiệp đến các trường ĐH. Ở mức độ 11 cao trong mối liên kết trường ĐH - doanh nghiệp, các trường ĐH và doanh nghiệp cùng nhau chia sẻ cơ sở hạ tầng như phòng thí nghiệp, vườn ươm công nghệ, khu công viên công nghệ (Perkmann và Walsh, 2007), các trường ĐH thực hiện những hợp đồng nghiên cứu công nghệ do doanh nghiệp đặt hàng (bao gồm hoạt động nghiên cứu, tư vấn, thử nghiệm, giám sát chất lượng, phát triển sản phẩm mới,…. Các trường ĐH cũng nhận ra giá trị gia tăng trong các hoạt động nghiên cứu và thương mại hoá các sản phẩm nghiên cứu thông qua hình thức bán bằng sáng chế và quyền tác giả.
Trong những hoạt động này, nhiều trường ĐHCL có ưu thế hơn do các trường này có sự đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu từ ngân sách và dễ dàng có được những hợp đồng với doanh nghiệp hơn. - Nguồn thu từ người học (học phí và các khoảng phí, lệ phí): Đây là một nguồn tài chính quan trọng để đảm bảo cho các hoạt động giảng dạy của các trường Đại học. Học phí là khoản tiền mà sinh viên (hoặc cha mẹ của sinh viên) phải trả cho dịch vụ giáo dục của nhà trường.