CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình liên quan đến đề tài luận án 1. Tổng quan các vấn đề lý luận về phát triển hạ tầng giao thông Vấn đề đa dạng hoá nguồn lực tài chính cho phát triển hạ tầng giao thông là một trong các vấn đề rất quan trọng. Vì vậy, các lý luận cho hoạt động đa dạng hoá nguồn lực tài chính được quan tâm của các nhà khoa học, nhà quản lý.
Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra các phương thức để đa dạng hoá các nguồn lực tài chính phục vụ cho việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của các nước trên thế giới, hoặc sử dụng các mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của các nguồn lực tài chính đến sự phát triển cơ sở hạ tầng giao thông. Các nghiên cứu mang tính lý luận làm căn cứ khoa học cho hoạt động đa dạng hoá nguồn lực tài chính được chỉ ra như sau: Adam Smith trong cuốn nghiên cứu - Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) - Nhà xuất bản Giáo dục (1997) chỉ ra cách sử dụng vốn, tác giả trong đó 4 cách sử dụng vốn đã được tác giả khái quát. Trong 4 cách sử dung vốn Adam Smith (NXB Giáo dục, 1997) nhấn mạnh vào các hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu thụ hàng hóa, trong đó có ẩn chứa việc sự dụng vốn vào xây dựng hạ tầng phục vụ cho các hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu thụ hàng hóa đó.Todaro tác giả cuốn - Kinh tế học cho thế giới thứ ba - Nhà xuất bản Giáo dục (Michael P.Todaro - Economics for a Third World - Longman, London and New York) xuất bản (1998), trong đó đề cập đến vấn đề tích lũy vốn, vai trò của vốn đến tăng trưởng và phát triển, thông qua sự phân tích “Chân dung nền kinh tế đang phát triển: Hàn Quốc”, những năm 70 để minh chứng.Stinglits (1995) - Kinh tế học công cộng (Economics of the public sector) - Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật và Nhà xuất bản Kinh tế quốc dân. Đây là tác phẩm được dịch và xuất bản ở Việt Nam năm 1995, nghiên cứu về phân phối nguồn lực khi viết về “Chế độ tài chính Liên bang” đã đưa ra các nguyên tắc của chế độ tài chính liên bang, đưa ra mức phân bổ chi tiêu, trong đó mức chi tiêu cho giao thông.
Đây là cơ sở để xem xét các vấn đề liên quan đến phân bổ vốn đầu tư xã hội từ ngân sách. Một trong các vấn đề quan trọng và luôn nóng bỏng ở mọi quốc gia trên thế giới.Wayne Nafziger (1998) - Kinh tế học của các nước đang phát triển (The Economics of Developing Countries) - Nhà xuất bản Thống kê. Trong 20 chương của tác phẩm, chương 8 đã đề cập đến sự hình thành vốn, lựa chọn đầu tư và tiến bộ kỹ 11 thuật, trong đó đã làm rõ vai trò của vốn đến tăng trưởng và phát triển, chỉ ra sự tăng đồng điệu giữa vốn và thu nhập.Wayne Nafziger (1998) chỉ ra nguyên nhân của mối quan hệ này là sự tăng vốn do tăng đầu tư các yếu tố đầu vào, trong đó có các yếu tố thuộc phạm trù hạ tầng kinh tế - xã hội và các yếu tố đầu vào trực tiếp. Tuy nhiên, trong phân tích E.Wayne Nafziger (1998) chỉ nhấn mạnh các nguồn lực vật chất, nguồn lực con người chưa được chú trọng.
- Báo cáo của văn phòng ngân sách quốc hội Hoa Kỳ (CBO, 2016) cho biết thông tin về chi tiêu của chính phủ cho sáu loại cơ sở hạ tầng giao thông tại Mỹ là 416 tỷ đô la trong năm 2014, trong đó bao gồm hệ thống đường cao tốc, giao thông công cộng và đường sắt, vận tải hàng không, vận tải đường thủy, mạng lưới hạ tầng đường thủy và các tiện ích đường thủy. Chi tiêu công cho hệ thống giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng đường thủy chiếm 2,4% tổng GDP của nước Mỹ. Có thể thấy, Mỹ đã nhận thức rất rõ tầm quan trọng chiến lược của hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông và có sự phân bổ nguồn tài chính để đầu tư xứng đáng, hợp lý, thể hiện ở chỗ tỉ trọng nguồn ngân sách nhà nước Mỹ dành cho phát triển cơ sở hạ tầng không hề nhỏ. - Aschauer (1989) với nghiên cứu về “Đầu tư công và phát triển kinh tế’’ đã tập trung giải thích sự suy giảm năng suất có liên quan đến cuộc khủng hoảng dầu đầu tiên vào năm 1973-1974.
Ông chỉ ra rằng đầu tư của Hoa Kỳ vào các công trình hạ tầng đã bắt đầu chậm lại vào cuối năm 1960 và điều này có làm chậm lại quá trình tăng trưởng của đất nước. Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng hoá nguồn lực cho phát triển hạ tầng giao thông Nhóm 1: Các nghiên cứu về nguồn lực tài chính từ ngân sách chính phủ - Edame (2013) có công trình nghiên cứu về “Vai trò của ngân sách nhà nước, phát triển cơ sở hạ tầng và tăng trưởng kinh tế tại Nigeria’’ được đăng trên tạp chí “Business and Social Sciences’’ năm 2013. Bài nghiên cứu đã làm rõ vai trò ngân sách nhà nước đối với phát triển cơ sở hạ tầng và tăng trưởng kinh tế tại Nigeria, cùng với đó đã đưa ra mối tương quan giữa ngân sách nhà nước và phát triển các ngành kinh tế. Từ những phát hiện trên, các tác giả đã nêu lên kiến nghị rằng Chính phủ cần nỗ lực thực hiện các chính sách đầu tư ngân sách thích hợp dành cho phát triển cơ sở hạ tầng.
Aschauer (1989) với nghiên cứu về “Đầu tư công và phát triển kinh tế’’ đã tập trung giải thích sự suy giảm năng suất có liên quan đến cuộc khủng hoảng dầu đầu tiên vào năm 1973-1974. Ông chỉ ra rằng đầu tư của Hoa Kỳ vào các công trình hạ tầng đã bắt đầu chậm lại vào cuối năm 1960 và điều này có làm chậm lại quá trình tăng trưởng 12 của đất nước. Nhóm 2: Các nghiên cứu về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) - Tony Addison & Pb Anand (2012) - “Viện trợ và tài chính của cơ sở hạ tầng: Những thách thức mới tập trung vào Châu Phi”, đã khẳng định rằng: chỉ tiêu, nguồn gốc vốn ODA được xem là có vai trò quan trọng, to lớn, bổ sung sự thiếu hụt trong việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở các nước đang và chậm phát triển, điển hình trong đó là Châu Phi. - Gavieta (2010) chỉ ra trong nghiên “Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Quỹ đầu cơ, và quỹ hỗ trợ phát triển chính thức của Trung Quốc: Tác động đến phát triển cơ sở hạ tầng Philippines’’ đã nêu bật những kinh nghiệm phát triển cơ sở hạ tầng ở Philippines trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, bằng cách áp dụng nguyên tắc cơ bản trong nền kinh tế vĩ mô.
Theo tác giả, quy mô thị trường cho sự phát triển của các dự án hướng đến cơ sở hạ tầng nên được thực hiện dưới hình thức xây dựng/ vận hành/ chuyển giao (BOT) hoặc mô hình quan hệ đối tác công-tư (PPP). Việc phân loại các dự án cơ sở hạ tầng vào các dự án định hướng thị trường và phi thị trường theo hướng phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính tại các thị trường mới nổi. Dự án định hướng thị trường có thể được thực hiện bởi khu vực tư nhân trong khi dự án phi thị trường có thể được thực hiện bởi các khu vực công thông qua việc sử dụng nguồn viện trợ phát triển (ODA). Kim (2006) trong nghiên cứu“ Phát triển cơ sở hạ tầng đối với phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển: Bài học từ Hàn Quốc và Nhật Bản” đã chỉ ra các bài học quan trọng được rút ra từ kinh nghiệm phát triển cơ sở hạ tầng tại Hàn Quốc và Nhật Bản, những bài học này đã và đang được áp dụng phát triển cho nhiều nước khác.
(1) Đầu tiên, các mô hình về nhu cầu cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực điện, giao thông, thông tin liên lạc, vốn là những hệ thống cơ sở hạ tầng quan trọng tại các quốc gia phát triển, sẽ được phân tích ở từng giai đoạn phát triển kinh tế từ những năm 1910 đến những năm 1990. (2) Đầu tư công cho phát triển cơ sở hạ tầng tại Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ được phân tích trong cùng thời kỳ. (3) Mối quan hệ giữa phát triển cơ sở hạ tầng và tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc sẽ được kiểm tra đối chiếu với kinh nghiệm của Nhật Bản. Việc kiểm tra này sẽ cung cấp một ý nghĩa về phát triển cơ sở hạ tầng cho các nước đang phát triển, nó cho thấy các xu hướng phát triển của nhu cầu về điện, giao thông vận tải, thông tin liên lạc trong từng giai đoạn phát triển giống nhau tương ứng tại Hàn Quốc và Nhật Bản.
Các mối tương quan giữa phát triển cơ sở hạ tầng và tăng trưởng kinh tế tại hai nước cũng cho thấy có sự tương tự. Cụ thể là sự kết hợp giữa dòng tiền và đầu tư chứng khoán vào cơ sở hạ tầng tác động tích cực đến 13 tăng trưởng kinh tế. Trong số các cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc, tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sự chênh lệch về thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn có xu hướng xấu đi khi đầu tư cơ sở hạ tầng chỉ tập trung phát triển tại khu vực đô thị.
Theo nhiều phân tích của các nhà khoa học, đầu tư cơ sở hạ tầng ở những vùng kém phát triển đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện mục tiêu chính sách điều chỉnh chênh lệch thu nhập giữa các vùng. Để đạt được mục tiêu này, tác giả chỉ ra rằng các khoản đầu tư lớn trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng của Hàn Quốc nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững là cực kì quan trọng, không chỉ từ nguồn vốn ODA mà còn cần có sự quan tâm của các nguồn lực tài chính từ phía các doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức phi chính phủ. Bài học này mang lại cho cả Hàn Quốc và Nhật Bản một lợi thế so sánh trong hợp tác phát triển với các nước đang phát triển trong tương lai. Những bài học đó có thể cung cấp chiến lược và mô hình phát triển một cách thuyết phục từ những kinh nghiệm phát triển của họ.
Kim and Asian Development Bank, Eds (2011) báo cáo tổng hợp về những thách thức chính sách nhà nước tác động đến nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào cơ sở hạ tầng ở Châu Phi của Nhật Bản.