CHƯƠNG I Để công tác thi hành án dân sự đạt được hiệu quả, thì không thể thiếu các biện pháp cưỡng chế thi hành án, là các biện pháp mạnh, sử dụng quyền lực nhà nước, thể hiện tính nghiêm khắc, nghiêm minh của pháp luật, giữ vững kỷ cương phép nước, bảo vệ tốt hơn quyền của người được thi hành án, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại. Việc nghiên cứu các biện pháp cưỡng chế thi hành án sẽ giúp làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí, vai trò của cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên; xác định rõ hơn trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động thi hành án dân sự, cũng như công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự. 11 Chương 2 THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 2. Thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự 2.
Quy định về thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự Theo quy định tại Điều 70 Luật THADS căn cứ để tổ cức cưỡng chế thi hành án gồm: “Bản án, quyết định; Quyết định thi hành án; Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án”. Để lựa chọn biện pháp cưỡng chế phù hợp với tính chất vụ việc, tương ứng với nghĩa vụ thi hành án, trước khi ban hành quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh đầy đủ, chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, hoàn cảnh gia đình, nhân thân và nguồn thu nhập của người phải thi hành án. Sau khi Chấp hành viên đã quyết định cưỡng chế và xây dựng kế hoạch cưỡng chế thì cần thực hiện công tác chuẩn bị cưỡng chế. - Họp bàn cưỡng chế, trên cơ sở nội dung, tình huống của kế hoạch cưỡng chế đã được Chấp hành viên xây dựng và đề xuất, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự mời các các cơ quan, đơn vị phối hợp cưỡng chế, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp họp bàn cưỡng chế, phổ biến kế hoạch cưỡng chế và phân công nhiệm phối hợp cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị, đồng thời lắng nghe ý kiến đóng góp của các cơ quan phối hợp để hoạn thiệt kế hoạch cưỡng chế.
Theo quy định tại thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT – BTP – BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp – Bộ Công an; quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án, Cơ quan công an có trách nhiệm chủ trì trong việc xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm phối hợp để xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế sát với tình hình vụ việc, đạt yêu cầu đặt ra. - Chấp hành viên chủ động liên hệ thuê phương tiện, xe cứu thương, xe đưa đón đoàn cưỡng chế đi làm nhiệm vụ … thuê nhân công, mua vật liệu cần thiết. Trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự được quy định tại chương VIII của Luật THADS và được quy định chi tiết tại Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ Sử a đ ổi, b ổ s un g m ột số điề u củ a Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và 12 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Lãnh đạo Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk phải tham mưu cho UBND tỉnh Đắk Lắk thành lập và kiện toàn Ban chỉ đạo thi hành án dân sự, theo đó Ban chỉ đạo thi hành án dân sự có trách nhiệm giúp Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo công tác thi hành án dân sự trên địa bàn toàn tỉnh và chỉ đạo công tác phối hợp thi hành án trên địa bàn thành phố, thị xã, huyện đặc biệt là chỉ đạo phối hợp cưỡng chế đối với những vụ việc có tính chất phức tạp có ảnh hưởng đến an ninh, tật tự của địa phương.
Thủ tục cưỡng chế thi hành án là một công đoạn trong quá trình tổ chức thi hành án, trong đó cưỡng chế thi hành án là công việc phức tạp nhất, trải qua nhiều giai đoạn: Sau khi hết thời hạn tự nguyện THA, người có thẩm quyền THA xem xét, cân nhắc lựa chọn biện pháp cưỡng chế được quy định tại điều 71 Luật THADS để ra quyết định cưỡng chế, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án. - Lập kế hoạch cưỡng chế: Trước khi tiến hành cưỡng chế THADS, người có thẩm quyền THA phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay hoặc không huy động lực lượng. Việc thông báo quyết định cưỡng chế được thực hiện theo quy định chung về thông báo thi hánh án quy định tại điều 39, 40, 41, 42 của Luật THADS và được hướng dẫn tại điều 12 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ Sử a đổ i, b ổ su ng m ột s ố đi ều c ủa Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. - Tiến hành cưỡng chế: Người có thẩm quyền THA công bố quyết định cưỡng chế, giải thích các quy định có liên quan, chủ trì điều hành toàn bộ quá trình cưỡng chế, kịp thời xử lý mọi tình huống đã dự kiến trong kế hoạch và tình huống phát sinh diễn ra trong quá trình cưỡng chế cho đến khi kết thúc việc cưỡng chế.
Giai đoạn 1: Xác minh tài sản Việc xác minh phải theo đúng quy định tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự [57, tr.26], Điều 9 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ S ửa đổi, b ổ s un g mộ t s ố điề u củ a Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính 13 phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự [26, tr. và Điều 3 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC. Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng dất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký. Sau khi kê biên, Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định của pháp luật.
Chấp hành viên phải thực hiện đầy đủ công tác xác minh điều kiện thi hành án và số lượng tài sản cần kê biên, trong đó khâu quan trọng nhất là phải làm rõ quyền sở hữu tài sản riêng, tài sản chung đồng sở hữu của người phải thi hành án mà cơ quan thi hành án được quyền kê biên. Giai đoạn 2: Thông báo cưỡng chế kê biên Thông báo là thủ tục đặc biệt quan trọng và được thực hiện xuyên suốt trong quá trình tổ chức thi hành án. Nếu vi phạm thủ tục thông báo, kết quả thi hành án có thể bị hủy bỏ. Chấp hành viên phải gửi quyết định cưỡng chế cho Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án.
Giai đoạn 3: Kê biên tài sản Khi kê biên nếu đương sự vắng mặt thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Khi kê biên nhà ở, công trình kiến trúc mà phải mở khoá, phá khoá thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý mở khoá; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Khi kê biên tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp thì phải lưu ý việc kê biên trong trường hợp này chỉ được thực hiện khi người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, và giá trị của tài sản đã thế chấp phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nhận thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp biết về việc kê biên [57, tr.48]; khi xử lý 14 tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật thi hành án dân sự.
Khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nêu trên mà xảy ra trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ bảo đảm thì Chấp hành viên thông báo với các bên liên quan, đương sự để dừng việc xử lý tài sản, nếu xác định đương sự vẫn không có tài sản khác để thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì làm thủ tục trả đon yêu cầu thi hành án. Khi kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ, kể cả trường hợp tài sản đó chỉ mới được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên vẫn có quyền ra Quyết định kê biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án. Khi kê biên tài sản đang cho thuê thì cần lưu ý người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết [57, tr. Khi kê biên tài sản là vốn góp của người phải thi hành án, chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó [57, tr.