mở đầu cho phong trào Duy Tân và phong trào Đông Du vận động tăng cường dân trí, dân chủ, nhân quyền và cải cách xã hội cho người Việt trước tầng lớp người Pháp cai trị. Chính những hoạt động tích cực của các phong trào này là một trong những động lực cơ bản của quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam ở những thập niên đầu thế kỷ XX về cả phương diện hình thức lẫn phương diện tư tưởng. Tuy nhiên, sự phát triển các phong trào này sau đó bị chính quyền thực dân dẹp bỏ vì nhận thấy nguy cơ đối với chế độ thuộc địa của họ. Sự hạn chế giáo dục là một nội dung của “Chính sách ngu dân” mà thực dân Pháp dùng ở Việt Nam.
Trong cả ba kỳ của Việt Nam, tính đến năm 1906 mới chỉ có 25 trường tiểu học Pháp – Việt và tính đến năm 1913 mới chỉ có 10 vạn học sinh các cấp (trong tổng số 20 triệu dân lúc bấy giờ). Sự phát triển giáo dục cũng không đều khắp, tất cả các vùng miền núi đều không có trường học. Trong khi nhỏ giọt thực hiện các chính sách gọi là “mở mang” “khai hoá” cho xứ thuộc địa, thực dân Pháp còn thực hiện một chính sách phản động về văn hoá, nhằm huỷ hoại nòi giống Việt Nam, gieo rắc tư tưởng tự ti trong nhân dân, duy trì nếp sống lạc hậu và truyền bá một nếp sống tư sản phương Tây không kém phần hủ bại. Những thói hư tật xấu của xã hội cũ được dung dưỡng.
Cờ bạc không những không bị cấm đoán mà còn được khuyến khích. Báo chí bên cạnh mặt tích cực của nó cũng được sử dụng như là một công cụ đặc biệt nhằm làm thui chột mầm mống cách mạng trong nhân dân.Về báo chí – Văn học Từ đầu thế kỉ XVII, thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), sự ly khai với triều đình Lê – Trịnh đã tạo thành xứ Đàng Trong phân cách với xứ Đàng Ngoài. Hoàn cảnh thực tế này đả làm nảy sinh một bộ phận có ít nhiều sắc thái cá biệt của lịch sử văn học; đó là nền văn học Đàng Trong xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XVII với những tác phẩm của Đào Duy Từ (1572-1634) và phát triển riêng rẽ, ngăn cách với văn chương Đàng Ngoài cho đến cuối thế kỷ XVIII. Tuy đã nảy sinh và phát triển trên một vùng đất mới với những điều kiện xã hội khá nhiều dị biệt, văn chương Đàng Trong vẫn tiếp nối truyền thống văn học của dân tộc.
Năm 1859, với việc Pháp xâm chiếm vùng Bến Nghé (Gia Định), một sự kiện lịch sử khác lại xảy ra, có tác dụng tạo thành ngăn cách để khơi dòng cho một bộ phận văn học mới. Sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở dị đồng thể chế giữa Nam Kỳ và Trung, Bắc Kỳ. Trên nguyên tắc pháp lý đặt ra do những văn kiện kí kết giữa Pháp và triều đình Huế, Nam Kỳ là một thuộc địa, dân Việt ở miền Nam hoàn toàn bị đặt dưới chế độ cai trị tuỳ Pháp định đoạt. Trung và Bắc Việt là những “xứ bảo hộ” mà lợi dụng những cam kết gian ngoa, Pháp thi hành nhiều thủ đoạn để thực sự biến thành thuộc địa với sự tiếp tay đắc lực của chính triều đình Huế.
Chế độ bảo hộ “mập mờ” ở Trung, Bắc thêm vào sự nghi ngại không đủ cơ sở pháp lý để thẳng tay trấn áp khiến chính quyền thực dân siết mạnh những vòng kềm kẹp ở Trung, Bắc nhiều hơn Nam. Bởi đó, tuy là thuộc địa, miền Nam bị đặt dưới một chế độ có phần nới rộng hơn ở Trung và Bắc Việt. Trong hệ thống trấn áp của guồng máy cai trị thực dân, những biện pháp dành cho Nam Kỳ, đến một giới hạn nào đó, giữ vai trò của “một chỗ xả hơi an toàn”, về văn học cũng như ở các lĩnh vực chính trị xã hội. Và chính tình trạng ấy cũng dự phần vào việc tạo cho văn học miền Nam những sắc thái dị biệt đối với nền văn học quốc gia lưu truyền sau thời Pháp thuộc.
Nói đến nền văn học hiện đại không thể không nhắc đến vai trò của ngôn ngữ văn học, mà cụ thể là chữ quốc ngữ. Điều đáng nói không phải những tác phẩm văn chương mà báo chí mới chính là phương tiện đầu tiên phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ ở Việt Nam. Thiếu Sơn trong bài diễn thuyết Báo giới và văn học quốc ngữ năm 1933 tại Hội Nam Kỳ Khuyến học Sài Gòn đã thấy sự quan hệ đặc biệt của văn học và báo chí ở Việt Nam: “Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng nền văn học” [49,115]. Quan hệ gắn bó mật thiết giữa báo chí và văn học trong giai đoạn đầu kiến tạo nền văn học hiện đại không phải là một cái gì riêng có chỉ ở Việt Nam.
Có một hiện tượng mang tính khu vực, đó là sự có mặt của báo chí trong những phong trào Duy Tân của các nước đồng văn trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Dẫn chứng điển hình có thể tìm thấy trong lịch sử Trung Quốc. Năm 1840, triều đình Mãn Thanh thất bại trong cuộc chiến tranh Nha phiến với các nước phương Tây. Và năm 1894, trong cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng ở Triều Tiên với Nhật Bản, họ phải cắt đất giảng hoà, nhận tội và bồi thường chiến phí.
Hơn nửa thế kỷ thất bại nối tiếp thất bại, bị đè bẹp trước những thế lực đến từ phương Tây với văn minh cơ khí và nhất là phải chịu thúc thủ trước một dân tộc vốn bị coi là man di ở ngoài biển Đông; những nỗi quốc sỉ đã đánh thức nơi người Trung Hoa ý thức về nhu cầu duy tân cải cách, hiện đại hoá đất nước. Bắt đầu từ 1895, ở Trung Hoa, phong trào Duy Tân dấy lên một cách mạnh mẽ với đội ngũ trí thức tân học, cấp tiến ngày càng đông đảo: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục… và rất nhiều trí thức khác. Một trong những hoạt động chính của các ông, song song với việc thành lập những học hội, những trường Tân học, viết thư đệ trình đề xuất cải cách lên triều đình phong kiến chính là mở báo và viết báo. Phát huy tác dụng của một phương tiện thông tin đại chúng đặc thù (và cũng là duy nhất lúc đó), báo chí đã trở thành một thành tố của công cuộc hiện đại hoá xã hội, trở thành một phương tiện giới thiệu văn minh phương Tây, tuyên truyền cổ động cho công cuộc Duy Tân.
Những tờ báo như Trung Ngoại ký văn, Thời vụ báo, Quốc văn chân báo, Cường học báo… đã đi vào lịch sử Trung Quốc với tư cách là cơ quan ngôn luận của phong trào Duy Tân Trung Quốc. Chính những tờ báo đó, cùng với bản dịch tác phẩm của Darwin, Rousseau Montesquieu, Spencer… đã sang Việt Nam và trở thành một trong những đốm lửa làm bùng lên phong trào Duy Tân ở nước ta dưới cái tên những “Tân thư”, “Tân báo”. Trở lại với Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, đã diễn ra một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc. Cuối thế kỷ XIX, hầu như toàn bộ những những phong trào yêu nước theo kiểu cũ của sĩ phu, văn thân đều lần lượt đi đến thất bại.
Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám giành độc lập mà trên nhiều mặt đã lỗi thời và không mấy hiệu quả thực tế. Và ngay sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam bằng vũ lực, người Pháp đã bắt đầu bắt tay vào công cuộc thực dân hoá Việt Nam. Thảm trạng mất nước và kinh nghiệm xương máu rút ra từ thất bại của những nhà Nho lớp trước đã tác động mạnh mẽ đến những trí thức Nho học hồi đầu thế kỷ. Mở rộng tầm mắt ra khu vực cũng như khắp toàn cầu, trong họ đã diễn ra một quá trình thức nhận lại về địa vị của dân tộc trong thế giới hiện đại.
Họ dũng cảm nhìn thẳng vào thực trạng nghèo nàn, lạc hậu và bất lực của dân tộc, coi đó là nguồn gốc của mất nước. Hai tấm gương lớn có vai trò như những hình mẫu lý tưởng của trí thức Việt Nam đầu thế kỷ là Nhật Bản và Trung Quốc. Đặc biệt thông qua con đường Tân thư, Tân báo, những tư tưởng về Duy Tân và học tập văn minh phương Tây đã thấm nhiễm vào trí thức Nho học Việt Nam. Điều đáng chú ý trong hoạt động của những phong trào Duy Tân đầu thế kỷ, đó chính là sự đề cao của trí thức truyền thống đối với vai trò của báo chí.
Luật tự do báo chí được áp dụng tại miền Nam từ ngày 22/09/1881, cùng với phong trào truyền bá chữ quốc ngữ khiến cho hoạt động báo chí ở Nam Kỳ diễn ra rất sôi nổi. Trước khi Pháp xâm lược, ở Việt Nam chưa hề có báo chí. Tờ báo quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo ra đời ngày 15/04/1865, ít nhiều đóng vai trò thúc đẩy sự chuyển tiếp của một nền văn chương cổ sang văn chương hiện đại. Thông loại khoá trình (1888), tờ báo tư nhân đầu tiên, tạp chí văn học đầu tiên của nước ta đã dạy cho độc giả biết chữ nghĩa văn chương và tập viết văn chương.
Nhắc đến hai tờ báo này phải lưu ý đến vai trò của Trương Vĩnh Ký. Sau đó lần lượt xuất hiện nhiều tờ báo khác: Phan Yên báo (1898), Nông cổ mín đàm (1901), Đại Việt tân báo (1905), Lục tỉnh tân văn (1907), Nam Kỳ địa phận (1908), Đông Dương tạp chí (1913), Công luận báo (1916), Nam Phong tạp chí (1917)… Đến năm 1930, đã có trên 80 tờ báo và tạp chí lưu hành trong cả nước, riêng ở Sài Gòn đã phát hành 50 tờ. Sài Gòn – Gia Định là mảnh đất màu mỡ của báo chí. Chữ quốc ngữ đến với Nam Bộ sớm hơn, nên báo chí chữ quốc ngữ trở thành một món ăn tinh thần thiết yếu của đông đảo độc giả thuộc nhiều tầng lớp khác nhau.
Chúng phục vụ mọi đối tượng, bất kể thành phần, tầng lớp xã hội nào. Ấn tượng mà người đọc dễ dàng nhận thấy là báo chí Nam Bộ thời bấy giờ dung nạp tất cả mọi dạng thông tin, từ tác phẩm văn chương đến chuyện thương mại, khoa học, tôn giáo, y tế… Chúng thiên về hướng phổ thông, phổ cập chứ không chú ý đến hướng chuyên sâu, chuyên ngành. Điều này cho thấy một đặc trưng quan trọng của báo chí 30 năm đầu thế kỷ, đó là ý thức của trí thức đương thời trong việc sử dụng báo chí làm công cụ cho sự nghiệp cách mạng văn hoá, thay đổi xã hội.