Tổng quan nghiên cứu

Di cư hôn nhân xuyên quốc gia là một hiện tượng xã hội nổi bật tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong hơn hai thập kỷ qua. Từ năm 1987 đến năm 2010, cả nước ghi nhận khoảng 300.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, trong đó có hơn 35.000 người di cư sang Hàn Quốc và 85.000 người sang Đài Loan. Tại tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2012, Sở Tư pháp đã cấp hơn 10.000 giấy chứng nhận kết hôn có yếu tố nước ngoài. Riêng trong năm 2011, địa phương này có 308 cặp vợ chồng Việt - Đài đăng ký kết hôn hợp pháp và con số này tiếp tục tăng lên 367 cặp vào năm 2012, cùng với 162 trường hợp phụ nữ kết hôn với nam giới Hàn Quốc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xoay quanh việc dòng kiều hối phi lao động chuyển về từ các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia đã làm thay đổi hành vi cung ứng lao động và chiến lược sinh kế của các thành viên ở lại quê nhà, đặc biệt là nam giới. Mục tiêu cụ thể của luận văn là lượng hóa mối quan hệ giữa thu nhập phi lao động và mức độ cung ứng lao động, đánh giá tình trạng thất nghiệp tự nguyện, đồng thời xác định các nguyên nhân dẫn đến tính dễ tổn thương kinh tế của các hộ gia đình có cô dâu lấy chồng nước ngoài. Phạm vi khảo sát được triển khai thực địa tại 15 ấp thuộc 4 huyện trọng điểm của tỉnh Vĩnh Long gồm Bình Tân, Bình Minh, Tam Bình và Vũng Liêm trong giai đoạn 2011 - 2013. Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp bằng chứng định lượng giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh các chương trình đào tạo nghề, định hướng sử dụng kiều hối hiệu quả và kích thích cung lao động nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu sử dụng nền tảng là Mô hình Tân cổ điển về lựa chọn lao động - nghỉ ngơi của Borjas (2003, 2005) kết hợp cùng Lý thuyết tác động của thu nhập chuyển giao đối với hành vi cung ứng lao động. Mô hình giả định mỗi cá nhân sở hữu quỹ thời gian cố định và phân bổ giữa hai hoạt động: làm việc để tạo thu nhập tiêu dùng và nghỉ ngơi nhằm tối đa hóa hàm hữu dụng cá nhân. Khi có thêm nguồn thu nhập phi lao động như kiều hối, đường ngân sách của cá nhân dịch chuyển song song lên phía trên với giả định mức tiền lương không đổi. Nếu thời gian nghỉ ngơi được coi là một hàng hóa thông thường, hiệu ứng thu nhập thuần túy sẽ làm gia tăng nhu cầu nghỉ ngơi, dẫn đến việc cắt giảm số giờ cung ứng lao động trên thị trường.

Khung phân tích của luận văn tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi:

  • Hộ gia đình nông thôn: Đơn vị kinh tế cùng sinh sống, chia sẻ chi phí sinh hoạt và đưa ra các quyết định phân bổ nguồn lực chung.
  • Cung lao động và số giờ làm việc: Tổng thời gian lao động thực tế hàng ngày hoặc hàng tuần được cá nhân cung ứng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc làm thuê tạo thu nhập.
  • Thu nhập phi lao động: Toàn bộ các khoản tiền chuyển giao không bắt nguồn từ hoạt động lao động trực tiếp hiện tại, chủ yếu là kiều hối từ các cô dâu gửi về, cùng một phần nhỏ từ trợ cấp xã hội và tiền cho thuê đất.
  • Người trong độ tuổi lao động không làm việc: Cá nhân từ 15 đến 64 tuổi không theo học tại các cơ sở giáo dục, có khả năng lao động nhưng không tham gia vào thị trường việc làm và sống phụ thuộc vào người khác.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra xã hội học đối với 168 hộ gia đình với 611 thành viên trong độ tuổi lao động tại 15 ấp thuộc 4 huyện của tỉnh Vĩnh Long. Cỡ mẫu được chia thành hai nhóm so sánh: Nhóm 1 gồm 112 hộ gia đình có ít nhất một phụ nữ kết hôn tự nguyện với người nước ngoài đang cư trú tại hải ngoại; Nhóm 2 gồm 56 hộ gia đình có toàn bộ con gái kết hôn với nam giới trong nước, được chọn ngẫu nhiên trong cùng địa bàn để làm nhóm đối chứng.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên kết hợp với danh sách do Ủy ban nhân dân xã, Công an địa phương và Chi hội các hộ gia đình có người di cư cung cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám Thống kê tỉnh Vĩnh Long năm 2012, báo cáo quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020 của tỉnh, báo cáo triển khai Đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng các thống kê đăng ký kết hôn từ Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp kiểm định T-test hai mẫu độc lập có phương sai không đồng nhất để so sánh giá trị trung bình giữa hai nhóm hộ về diện tích nhà ở, diện tích đất canh tác, số giờ làm việc và trình độ học vấn của nam giới. Lý do lựa chọn kiểm định T-test vì phương pháp này cho phép kiểm chứng các giả thuyết thống kê một cách khoa học, xác định rõ liệu sự khác biệt giữa hộ có kiều hối và hộ đối chứng có ý nghĩa thống kê hay chỉ là ngẫu nhiên, từ đó cung cấp căn cứ vững chắc cho các kết luận kinh tế lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nam giới tại các hộ có phụ nữ kết hôn xuyên quốc gia có mức cung ứng lao động thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng. Nam giới thuộc Nhóm 1 làm việc trung bình 4,28 giờ/ngày, trong khi nam giới thuộc Nhóm 2 làm việc trung bình 5,02 giờ/ngày. Kết quả kiểm định T-test cho thấy sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê ở mức 5% với chỉ số t tính toán đạt -2,027 so với giá trị tới hạn 1,972. Ngay cả khi loại trừ các trường hợp hoàn toàn không làm việc, nam giới nhóm đối chứng vẫn duy trì thời gian làm việc nhiều hơn khoảng 0,5 giờ mỗi ngày.

Thứ hai, dòng kiều hối thúc đẩy mạnh mẽ chi tiêu tiêu dùng sinh hoạt nhưng không chuyển hóa thành tài sản sản xuất. Diện tích nhà ở trung bình của Nhóm 1 đạt 119,9 m2 (giá trị phổ biến nhất là 150 m2), cao hơn đáng kể so với mức 99,9 m2 (giá trị phổ biến là 60 m2) của Nhóm 2, với giá trị t đạt 2,004 (có ý nghĩa ở mức 1%). Có 29 hộ gia đình trong Nhóm 1 đã xây dựng nhà kiên cố từ tiền gửi về và 28% hộ sử dụng kiều hối để trang trải chi phí sinh hoạt hàng tháng (so với 4% ở Nhóm 2). Tuy nhiên, diện tích đất lúa trung bình giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (t = 0,884), khi có tới 52% hộ Nhóm 1 hoàn toàn không có đất lúa và chỉ có 5,4% hộ (6 trường hợp) sử dụng kiều hối để mua thêm đất hoặc mở cửa hàng kinh doanh.

Thứ ba, tỷ lệ phụ thuộc và tỷ lệ rút lui khỏi lực lượng lao động ở nhóm có cô dâu di cư cao vượt trội. Quy mô nhân khẩu trung bình của Nhóm 1 là 4,37 người/hộ, lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với mức 3,89 người/hộ của Nhóm 2 (t = 2,043). Tỷ lệ phụ thuộc chung của Nhóm 1 là 1,02 (100 lao động phải nuôi dưỡng 102 người phụ thuộc), cao hơn nhiều so với mức 0,60 của Nhóm 2. Đáng chú ý, tỷ lệ người lớn trong độ tuổi lao động nhưng không tham gia làm việc ở Nhóm 1 chiếm 30%, cao gấp đôi so với mức 14% ở Nhóm 2.

Thứ tư, động lực làm việc và ý định tìm kiếm việc làm thứ hai của nam giới bị suy giảm nghiêm trọng. Khoảng 70% nam giới ở Nhóm 1 từ chối làm thêm công việc thứ hai, trong đó 34 người đưa ra lý do đã có sự chu cấp từ người thân hoặc cảm thấy thu nhập đã đủ sống. Tỷ lệ nam giới sẵn sàng làm thêm giờ ở Nhóm 1 chỉ đạt 26,8%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 43,3% ở Nhóm 2.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự suy giảm cung lao động là do tác động của hiệu ứng thu nhập khi kiều hối đóng vai trò như một khoản thu nhập bảo đảm, làm thay đổi thái độ đối với lao động nặng nhọc trong nông nghiệp. Người nhận kiều hối có xu hướng gia tăng thời gian cho các hoạt động giải trí; có 46% hộ Nhóm 1 gia tăng thời gian nghỉ ngơi so với 16% ở Nhóm 2. Họ chi tiêu nhiều hơn cho các buổi tiệc tùng, lễ hội (trung bình tham dự từ 30 đến 40 đám tiệc mỗi năm) và du lịch. Đồng thời, do 72% hộ Nhóm 1 chỉ có duy nhất một hoạt động kinh tế thuần nông, cộng với rủi ro dịch bệnh trên cây nhãn và sự rớt giá của nông sản như khoai lang Nhật, có tới 52% hộ Nhóm 1 bị sụt giảm thu nhập từ lao động trực tiếp và ngày càng lệ thuộc vào kiều hối.

Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu quốc tế của Kim (2007) tại Jamaica và Pablo (2006) tại El Salvador, khẳng định rằng nguồn tiền kiều hối lớn thường dẫn tới việc người nhận thu hẹp mức cung lao động và rút lui khỏi thị trường việc làm. Tuy nhiên, điểm khác biệt tại Vĩnh Long là nguồn kiều hối do phụ nữ di cư tạo ra trong điều kiện dễ tổn thương, không ổn định do thiếu kỹ năng và rào cản ngôn ngữ nơi xứ người.

Trong việc trình bày dữ liệu, các phát hiện trên có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch số giờ làm việc bình quân hàng ngày giữa nam giới hai nhóm, biểu đồ tròn phân bổ cơ cấu sử dụng kiều hối (làm nổi bật tỷ trọng lớn cho tiêu dùng và xây nhà so với tỷ trọng rất nhỏ cho sản xuất), cùng bảng tổng hợp ma trận kiểm định T-test so sánh diện tích nhà ở, quy mô nhân khẩu và tỷ lệ người không làm việc.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tổ chức các chương trình đào tạo nghề linh hoạt và giới thiệu việc làm phi nông nghiệp cho nam giới tại các xã có tỷ lệ di cư cao. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Long chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện Bình Tân, Tam Bình, Trà Ôn và Vũng Liêm triển khai trong giai đoạn 2024 - 2026. Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ người trong độ tuổi lao động không làm việc từ 31% xuống dưới 15%, thu hút ít nhất 60% nam giới chưa có việc làm tham gia các lớp dạy nghề kỹ thuật, lái xe, sửa chữa cơ khí hoặc chế biến nông sản.

Thứ hai, thiết lập chương trình tư vấn tài chính hộ gia đình và hỗ trợ chuyển đổi kiều hối thành nguồn vốn sản xuất kinh doanh bền vững. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Vĩnh Long phối hợp với Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh thực hiện trong giai đoạn 2024 - 2027. Mục tiêu là nâng tỷ lệ hộ gia đình sử dụng kiều hối để đầu tư vào tư liệu sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh hoặc học nghề từ mức 5,4% hiện nay lên ít nhất 25% vào năm 2027.

Thứ ba, chuẩn hóa công tác giáo dục định hướng, đào tạo ngôn ngữ và kỹ năng pháp lý bắt buộc cho phụ nữ trước khi xuất cảnh kết hôn. Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh triển khai liên tục từ năm 2024. Mục tiêu là bảo đảm 100% phụ nữ đăng ký kết hôn với người nước ngoài được trang bị kiến thức về văn hóa, ngôn ngữ cơ bản của nước sở tại và các kỹ năng tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp nhằm giảm thiểu rủi ro bạo lực gia đình và ly hôn.

Thứ tư, xây dựng quỹ an sinh xã hội và mạng lưới hỗ trợ cô dâu hồi hương tái hòa nhập cộng đồng. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương triển khai trong giai đoạn 2024 - 2026. Mục tiêu là bảo đảm 100% phụ nữ di cư gặp biến cố trở về nước được hỗ trợ tư vấn tâm lý, cung cấp gói hỗ trợ sinh kế khẩn cấp và kết nối vào làm việc tại các doanh nghiệp hoặc hợp tác xã địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách công và cán bộ quản lý ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để đánh giá tác động phụ của các dòng thu nhập chuyển giao đối với thị trường việc làm, từ đó thiết kế các chính sách an sinh và can thiệp thị trường lao động nông thôn hiệu quả hơn.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế học, Chính sách công và Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về cách thức ứng dụng lý thuyết kinh tế vi mô vào giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp tại Việt Nam, đồng thời cung cấp phương pháp luận chuẩn mực trong thiết kế bảng hỏi và xử lý số liệu bằng kiểm định thống kê.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và các đơn vị hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, bình đẳng giới. Các tổ chức này có thể sử dụng dữ liệu thực chứng về động cơ kết hôn, các trường hợp rủi ro thực tế và gánh nặng kinh tế của phụ nữ di cư để xây dựng các chương trình bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái vùng nông thôn.

Thứ tư, chính quyền địa phương và các đoàn thể cơ sở tại Đồng bằng sông Cửu Long. Cán bộ Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ và Hội Nông dân cấp xã có thể ứng dụng các phát hiện của nghiên cứu để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân quản lý nguồn tiền gửi từ nước ngoài hợp lý, tránh tâm lý ỷ lại và khuyến khích lao động nam giới tích cực tham gia sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Kiều hối từ phụ nữ lấy chồng nước ngoài tác động như thế nào đến số giờ làm việc của nam giới tại Vĩnh Long? Số liệu nghiên cứu cho thấy kiều hối làm giảm đáng kể mức cung lao động của nam giới. Nam giới ở nhóm có người thân kết hôn xuyên quốc gia chỉ làm việc trung bình 4,28 giờ/ngày, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với mức 5,02 giờ/ngày của nhóm đối chứng (t = -2,027). Có 52% hộ nhóm này bị giảm thu nhập từ lao động trực tiếp do cắt giảm thời gian làm việc.

Các hộ gia đình có cô dâu di cư sử dụng nguồn tiền gửi về vào mục đích gì là chủ yếu? Phần lớn nguồn kiều hối được phân bổ cho tiêu dùng sinh hoạt và cải thiện điều kiện sống trước mắt. Khảo sát ghi nhận 29 hộ gia đình đã xây dựng nhà ở khang trang và 28% hộ dùng kiều hối chi trả chi phí sinh hoạt thường nhật. Ngược lại, chỉ có 5,4% số hộ sử dụng tiền này để tái đầu tư vào đất đai hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh.

Tại sao tỷ lệ phụ thuộc ở các hộ gia đình có phụ nữ kết hôn xuyên quốc gia lại cao hơn? Quy mô hộ gia đình nhóm có cô dâu di cư đạt trung bình 4,37 người, lớn hơn đáng kể so với mức 3,89 người của nhóm đối chứng (t = 2,043). Do có nguồn kiều hối hỗ trợ, các hộ này dung nạp nhiều người già, trẻ em và đặc biệt là tỷ lệ người lớn trong độ tuổi lao động không chịu tìm việc làm lên tới 30%, đẩy tỷ lệ phụ thuộc chung lên mức 1,02.

Nghiên cứu sử dụng công cụ thống kê nào để so sánh đặc điểm giữa hai nhóm hộ? Luận văn sử dụng phương pháp kiểm định T-test hai mẫu độc lập có phương sai không đồng nhất để đối chiếu giá trị trung bình về diện tích nhà ở, đất đai, số giờ làm việc, học vấn và quy mô nhân khẩu giữa 112 hộ có phụ nữ kết hôn xuyên quốc gia và 56 hộ đối chứng, bảo đảm tính khách quan khoa học cho các kết luận.

Những rủi ro phổ biến mà phụ nữ di cư hôn nhân và gia đình tại quê nhà phải đối mặt là gì? Nhiều phụ nữ phải đối mặt với rủi ro bạo lực, ly hôn hoặc cô lập do thiếu ngoại ngữ và kỹ năng nghề nghiệp. Khi xảy ra biến cố ở nước ngoài, gia đình tại Việt Nam phải bán đất đai, tài sản để chuộc hoặc hỗ trợ con gái về nước, biến dòng kiều hối kỳ vọng thành gánh nặng nợ nần nghiêm trọng cho cả gia đình.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh thực nghiệm thành công tác động tiêu cực của dòng kiều hối từ hôn nhân xuyên quốc gia đối với mức cung lao động của nam giới tại Vĩnh Long dựa trên mô hình lựa chọn lao động - nghỉ ngơi.
  • Kết quả khảo sát 168 hộ gia đình khẳng định kiều hối chủ yếu làm tăng diện tích nhà ở (119,9 m2) và cải thiện tiện nghi sinh hoạt nhưng không giúp gia tăng tài sản sản xuất nông nghiệp hay mở rộng đất canh tác.
  • Tình trạng nam giới giảm giờ làm (4,28 giờ/ngày), rút lui khỏi thị trường việc làm (31%) và từ chối nhận việc làm thứ hai (70%) làm gia tăng mức độ tổn thương kinh tế của hộ gia đình khi nguồn kiều hối bị gián đoạn.
  • Lộ trình thực thi chính sách giai đoạn 2024 - 2027 cần tập trung đồng bộ vào đào tạo nghề cho nam giới, tư vấn quản lý tài chính hộ gia đình và bồi dưỡng kỹ năng bắt buộc cho phụ nữ trước khi xuất cảnh.
  • Các cấp chính quyền, tổ chức đoàn thể và cộng đồng cần chung tay hành động để chuyển hóa nguồn lực kiều hối thành các sinh kế bền vững, vừa bảo vệ phụ nữ di cư vừa củng cố nội lực kinh tế nông thôn.