Nghiên cứu Cúc La Mã (Matricaria chamomilla) tại Hà Nội và Lâm Đồng

Nghiên cứu khoa học về cây Cúc La Mã tại Hà Nội, Lâm Đồng. Phân tích chi tiết đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và tác dụng sinh học của loài.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Cúc La Mã

Cúc La Mã (Chrysanthemum morifolium) là loài cúc nổi tiếng được trồng rộng rãi tại Hà Nội và Lâm Đồng. Đây là loài hoa độc đáo với nguồn gốc từ Châu Á, đặc biệt phổ biến trong văn hóa truyền thống. Cúc La Mã không chỉ được yêu thích vì vẻ đẹp tinh tế, màu sắc đa dạng từ trắng, vàng, hồng đến tím mà còn vì những công dụng y học quý báu. Loài cúc này thích hợp với khí hậu ôn đới và được xem là biểu tượng của sự trường thọ, nhân ái trong nhiều nền văn hóa Đông Á.

1.1. Đặc điểm hình thái của Cúc La Mã

Cúc La Mã có thân cây thẳng, cao 60-90cm với lá xẻ sâu, mùi thơm nhẹ. Hoa có dạng bông tròn hoặc tán, các cánh hoa xếp chặt chẽ, có đường kính 5-10cm. Thời gian ra hoa từ tháng 9 đến tháng 11, đạt độ tinh khiết cao nhất vào mùa thu. Cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 15-25°C, thích độ ẩm vừa phải và ánh sáng mạnh.

1.2. Điều kiện trồng tối ưu tại Hà Nội và Lâm Đồng

Tại Hà Nội, cúc La Mã được trồng chủ yếu vào mùa thu đông để tránh nắng gay gắt. Lâm Đồng với khí hậu mát mẻ quanh năm là địa điểm lý tưởng cho trồng cúc, cho phép thu hoạch nhiều đợt. Cây yêu cầu đất màu mụn, thoáng khí, được tưới nước thường xuyên nhưng không ngập úng.

II. Tác dụng sinh học của Cúc La Mã

Cúc La Mã chứa nhiều chất hữu ích như flavonoid, polyphenol, vitamin C và tinh dầu. Những thành phần này mang lại các lợi ích sức khỏe đáng kể. Trong y học cổ truyền, cúc La Mã được sử dụng để hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến gan, mắt và hệ hô hấp. Các nghiên cứu hiện đại chứng minh tác dụng chống viêm, chống oxy hóa và tăng cường miễn dịch của loài hoa này.

2.1. Công dụng chống viêm và kháng khuẩn

Các chất polyphenol trong cúc La Mã có khả năng ức chế quá trình viêm, giúp giảm sưng, chảy máu chân răng và nhiễm trùng. Tinh dầu volatile có tác dụng kháng khuẩn mạnh, hỗ trợ điều trị các bệnh đường hô hấp như viêm họng, hen suyễn.

2.2. Tác dụng bảo vệ thị lực và mắt

Cúc La Mã giàu lutein và zeaxanthin, những chất giúp bảo vệ võng mạc, giảm mệt mắt khi làm việc máy tính lâu. Uống trà cúc La Mã thường xuyên giúp cải thiện độ sáng của mắt, phòng ngừa các bệnh về mắt tuổi già như đục thủy tinh thể.

2.3. Hỗ trợ sức khỏe gan và hệ tiêu hóa

Theo y học cổ truyền, cúc La Mã có tác dụng thanh nhiệt gan, lợi mật và cải thiện chức năng tiêu hóa. Chất chống oxy hóa giúp bảo vệ tế bào gan khỏi tổn thương, hỗ trợ quá trình giải độc tự nhiên của cơ thể.

III. Cách sử dụng và liều lượng an toàn

Cúc La Mã được sử dụng phổ biến dưới dạng trà hoặc nước uống. Cách sử dụng đơn giản: lấy 3-5 bông cúc tươi hoặc khô, cho vào cốc nước nóng 80-90°C, để ngắm 5-10 phút rồi uống. Có thể kết hợp với mật ong, đường phèn hoặc các loại thảo dược khác. Liều lượng an toàn thường từ 5-10 gam cúc khô mỗi ngày, chia thành 2-3 lần uống.

3.1. Phương pháp pha trà cúc La Mã đúng cách

Dùng nước lọc hoặc nước suối sạch, nhiệt độ 80-90°C tránh quá nóng làm mất các hoạt chất. Ngâm cúc trong 5-10 phút, uống ngay khi còn ấm để tận dụng tối đa các dưỡng chất. Có thể sử dụng cúc tươi hoặc khô, tươi phù hợp hơn nhất.

3.2. Những người không nên sử dụng

Người dị ứng với cúc, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 5 tuổi và người có huyết áp thấp nên tránh hoặc tham khảo ý kiến bác sĩ. Những người đang uống các loại thuốc có tác dụng thay đổi huyết áp cần cẩn thận.

IV. Triển vọng trồng và phát triển Cúc La Mã tại Việt Nam

Hà Nội và Lâm Đồng đang trở thành những trung tâm sản xuất cúc La Mã hàng đầu tại Việt Nam. Năng suất cao, thị trường nội địa và xuất khẩu ngày càng mở rộng tạo cơ hội kinh tế lớn cho nông dân. Các công nghệ trồng hiện đại, nhân rộng giống cải tiến đang được áp dụng. Triển vọng trong tương lai, cúc La Mã sẽ trở thành một sản phẩm nông sản chủ lực, đóng góp vào phát triển bền vững của khu vực.

4.1. Tiềm năng thị trường và kinh tế

Nhu cầu cúc La Mã tăng 15-20% mỗi năm trên thị trường nội địa, đặc biệt dịp Tết và các lễ hội. Xuất khẩu sang các nước Đông Á đang phát triển mạnh mẽ. Giá trị kinh tế cao, chi phí sản xuất thấp, khả năng lưu trữ tốt làm cho cúc La Mã trở thành cây trồng sinh lợi cho nông dân.

4.2. Hướng phát triển bền vững

Áp dụng kỹ thuật trồng hữu cơ, sử dụng phân bón tự nhiên và quản lý sâu bệnh sinh học. Phát triển du lịch nông nghiệp qua các vườn cúc, tạo thu nhập từ dịch vụ tham quan. Xây dựng chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến sản phẩm cúc (trà, tinh dầu, mỹ phẩm) nhằm tăng giá trị gia tăng.

28/12/2025
Nguyễn đỗ hoàng nghiên cứu đặc điểm thực vật thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cây cúc la mã matricaria chamomilla l trồng tại hà nội và lâm đồng khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về vị trí phân loại và đặc điểm thực vật của loài Matricaria chamomilla L. trên thế giới. Đặc điểm thực vật và phân bố loài Matricaria chamomilla L.

Tên khoa học và tên đồng nghĩa của loài Cúc la mã. Cúc la mã có tên khoa học là Matricaria chamomilla L. Tổng quan một số tài liệu, loài này có một số tên đồng nghĩa khác như: Chamaemelum chamomilla (L.Koch [6] Chrysanthemum chamomilla (L. Vị trí phân loại loài Matricaria chamomilla L.

Loài Matricaria chamomilla L. là một trong sáu loài thuộc chi Matricaria L. Theo hệ thống phân loại thực vật APG IV (2016) của nhóm phát sinh chủng loài thực vật hạt kín, vị trí phân loại của chi Matricaria L. được sắp xếp như sau [8]: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Luân tảo (Streptophyta) Lớp: Mộc tặc (Equisetopsida) Bộ: Cúc (Asterales) Họ: Cúc (Asteraceae) Chi: Cúc mẫu (Matricaria) c.

Đặc điểm hình thái Matricaria chamomilla L. Theo Thực vật chí Iraq [9] và Dược điển châu Âu phiên bản thứ 11 [10], đặc điểm thực vật loài Matricaria chamomilla L. được mô tả như sau: Cây thân thảo hàng năm cao 10-80 cm, bề mặt nhẵn, phân nhánh từ gốc. Lá kép lông chim.

phân thùy thẳng, bề mặt lá phẳng và có lông, đầu lá nhọn. Cụm hoa đầu, đường kính 15-20 cm. Lá bắc thuôn dài, mép lá có khía. Bao hoa gồm nhiều lá bắc xếp thành 1 đến 3 hàng.

Cụm hoa có 12 đến 20 hoa hình lưỡi, mép có lá bắc màu trắng; các hoa ở trung tâm hình ống, màu vàng. Các lá bắc bao quanh hoa hình trứng hoặc hình mác, mép lá mỏng và có màu nâu xám. Đế hoa rỗng và không có lá bắc phụ. Ống hoa hình lưỡi màu vàng nâu, từ gốc kéo dài tạo thành lưỡi hoa hình elip.

Bầu nhụy dưới có màu nâu sẫm, hình trứng hoặc hình cầu, có vòi nhụy dài và đầu nhụy chẻ đôi. 2 Hoa ống màu vàng, ống tràng hoa có 5 thùy, 5 nhị hoa đối xứng, gắn vào cánh hoa. Bộ nhụy tương tự với bộ nhụy của hoa hình lưỡi. Phân bố loài Matricaria chamomilla L.

có nguồn gốc từ miền Nam và miền Đông châu Âu và miền Bắc và miền Tây châu Á [11], [12]. Ngày nay, nó được phân bố và trồng rộng rãi. Cây được trồng ở nhiều nước Châu Âu (Đức, Hungary, Pháp, Nam Tư, Nga,…), Brazil, New Zealand và Bắc Phi [13]. Ở Ma-rốc, Matricaria chamomilla L.

nằm ở hai khu vực riêng biệt, khu vực đầu tiên nằm giữa Tangier, Ouezzane, Souk Larbaa, Moulay Bousselham và Azilah, và khu vực thứ hai nằm giữa Kenitra, Sidi Slimane, Khemisset và Rabat [14].1: Bản đồ phân bố loài Cúc la mã [15] 1. Đặc điểm hiển vi loài Matricaria chamomilla L. Theo Dược điển châu Âu phiên bản thứ 11 (2023), chỉ tiêu về bột hoa của loài Matricaria recutita L. (tên đồng nghĩa của Matricaria chamomilla L.) được mô tả gồm có các mảnh biểu bì ngoài của lá bắc bao hoa, các mảnh biểu bì trong của tràng hoa của các hoa hình lưỡi, các mảnh biểu bì ngoài của các hoa hình lưỡi, mảnh ở gốc hoa phần bầu nhụy, các mảnh biểu bì bao quanh nhụy, các nhóm tế bào ở đỉnh nhụy và hạt phấn [10].

Theo nghiên cứu của Andrea C. Andreucci (2007), lông tuyến của Matricaria chamomilla L. được mô tả có cấu trúc đa bào: hai tế bào đáy, hai tế bào cuống và một đầu tiết gồm sáu tế bào. Các tế bào của đầu tiết có lớp cutin mỏng, dưới lớp cutin có khoang chứa chất tiết.

Trên bề mặt đầu tiết không có khe hay vết nứt để chất tiết thoát ra ngoài. Chất tiết chỉ được giải phóng khi lớp cutin bị vỡ do tác động cơ học hoặc khi 3 lông tuyến kết thúc vòng đời. Khi lông tuyến bị thoái hóa, các tế bào của chúng bị xẹp lại, sự thoái hóa bắt đầu từ các tế bào ở đỉnh [16]. Tổng quan về nghiên cứu thành phần hóa học loài Matricaria chamomilla L.

Tổng quan về nghiên cứu tinh dầu loài Matricaria chamomilla L. Theo Dược điển châu Âu phiên bản thứ 11 (2023), tinh dầu thu được từ hoa của loài Matricaria chamomilla L. có màu xanh lam, gồm 2 loại: giàu các bisabolol oxid và giàu (-)-⍺-bisabolol [10]. Đối với 2 loại tinh dầu hoa Cúc la mã trên, các hợp chất được xác định là: β-farnesen, bisabolol oxid B, bisabolon, (-)-⍺-bisabolol, chamazulen, bisabolol oxid A.

Trong đó chỉ tiêu về giới hạn phần trăm của hàm lượng các thành phần của 2 loại tinh dầu được thể hiện qua Bảng 1.1: Giới hạn phần trăm hàm lượng của các thành phần tinh dầu theo Dược điển châu Âu phiên bản thứ 11 (2023). Tinh dầu hoa cúc giàu Tinh dầu hoa cúc giàu bisabolol oxid (-)-⍺-bisabolol (%) (%) Các bisabolol oxid 29 – 81 (-)-⍺-bisabolol 10 - 65 Chamazulen ≥ 1,0 ≥ 1,0 Tổng hàm lượng bisabolol ≥ 20 oxid & (-)-⍺-bisabolol Trong một nghiên cứu tại Ai Cập năm 2021, Ahmed Mahmoud Abbas và cộng sự tiến hành chưng cất tinh dầu từ hoa của loài Matricaria chamomilla L. thu tại tỉnh Aswan. Mẫu sau khi thu hái được để tươi và xử lý bằng các phương pháp sấy khác nhau (phơi trong bóng râm, phơi dưới ánh sáng mặt trời, sấy vi sóng, sấy bằng tủ sấy, sấy bằng năng lượng mặt trời).

Nghiên cứu trên chỉ ra hoạt chất chính của tất cả các mẫu tinh dầu thu được là ⍺-bisabolol oxid A (30% - 50,5%). Tuy nhiên, số lượng và hàm lượng các hợp chất của mỗi loại tinh dầu từ các mẫu hoa được xử lý nhiệt khác nhau là có sự khác nhau. Thông số về hợp chất và hàm lượng của chúng được thể hiện trong Bảng 1.2: Thành phần hóa học của tinh dầu hoa cúc được chưng cất từ hoa tươi và hoa khô tại Aswan, Ai Cập. 4 Mẫu Mẫu sấy Mẫu phơi Mẫu bằng Mẫu Mẫu phơi dưới sấy nhiệt từ sấy vi STT Tên hợp chất RT tươi bóng ánh bằng năng sóng (%) râm sáng tủ sấy lượng (%) (%) mặt trời (%) mặt trời (%) (%) Yomogi 1 5,11 - 0,23 - - 0,31 - alcohol 2 o-Cymen 5,66 - - - - 0,09 - 3 α-Pinen 6,03 0,16 - - - - - 4 β-Ocimen 6,29 1,21 - - - - - Artemisia 5 6,62 1,28 0,41 0,50 - 0,53 - keton 6 Borneol 9,65 - 0,31 0,37 - 0,21 - 7 β-Farnesen 18,85 2,36 2,06 3,08 7,30 2,80 4,90 8 Germacren D 19,47 0,64 0,22 0,22 1,20 0,36 0,67 Bicyclogerma 9 19,95 0,84 0,18 - 0,56 0,23 0,33 cren Caryophyllen 10 22,02 0,25 - - 0,19 2,40 - oxid (-)- 11 22,32 0,26 1,81 2,92 1,09 0,13 1,82 Spathulenol 12 tau-Cadinol 24,17 0,22 0,90 1,32 0,60 1,33 0,71 α-Bisabolol 13 24,64 15,32 12,43 15,36 8,23 12,74 11,09 oxid B 14 cis-α-Santalol 24,79 0,31 2,00 2,28 1,13 2,23 0,80 α-Bisabolon 15 25,38 8,66 9,28 14,58 5,37 10,27 7,01 oxid A 5 16 α-Bisabolol 25,44 4,10 - - - - - 17 Chamazulen 26,57 5,17 1,88 2,37 2,25 3,09 2,55 α-Bisabolol 18 27,25 44,80 50,46 32,95 47,00 41,17 48,34 oxid A 19 α-Costol 27,78 - 0,15 - - 0,07 - (Z)- 20 30,60 9,95 10,02 16,39 18,73 14,51 14,89 Tonghaosu (E)-Tibetin 21 32,25 0,36 0,55 1,00 1,06 1,21 0,98 spiroether 22 Acid linoleic 36,77 - 1,01 1,14 0,31 0,80 0,37 Trong một nghiên cứu khác tại Ai Cập, Mervat EL-Hefny và cộng sự (2019) tiến hành chiết tinh dầu từ loài Matricaria chamomilla L.

ở vùng Alexandria bằng phương pháp cất kéo hơi nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cis-β-farnesen (27%) là hợp chất chính trong tinh dầu, tiếp theo là D-limonen (15,25%) và α-bisabolol oxid A (14,9%). Ngoài ra, nghiên cứu trên cũng xác định 34 hợp chất khác trong thành phần hóa học của tinh dầu [18]. Năm 2018, Irem Ayran và các cộng sự đã nghiên cứu sự khác biệt về định lượng thành phần hóa học của hai mẫu tinh dầu chiết xuất từ loài Matricaria chamomilla L.

được trồng tại Konya và Karaman (Thổ Nhĩ Kỳ). Kết quả cho thấy sự chênh lệch đáng kể về tỉ lệ phần trăm các hoạt chất chính của các mẫu tinh dầu. Hàm lượng các thành phần chính của 2 mẫu tinh dầu trên được trình bày trong Bảng 1.3: : Thành phần hóa học của tinh dầu hoa cúc được thu hái tại Konya và Karaman (Thổ Nhĩ Kỳ) Tỷ lệ phần trăm (%) STT Tên hợp chất RI Konya Karaman 1 β-Ocimen 20,536 0,41 1,05 2 β-Farnesen 35,711 30,15 25,05 3 Germancren D 37,260 6,11 4,35 4 Bisabolol oxid 48,026 1,30 5,61 6 5 Bisabolon oxid 49,050 0,17 1,35 6 α-Bisabolol 49,926 38,60 27,36 7 Chamazulen 54,937 13,50 13,93 8 α-Bisabolol oxid 56,156 1,13 1,36 Trong một nghiên cứu năm 2020, Martina Höferl và cộng sự đã báo cáo về thành phần tinh dầu thu được từ loài Matricaria chamomilla L. được trồng ở Hungary, Serbia, Nam Phi và Ấn Độ, với 114 hợp chất được ghi nhận.

Trong khi thành phần chủ yếu trong tinh dầu Cúc la mã trồng tại Ấn Độ là các monoterpenoid hydrocarbon, các sesquiterpen hydrocarbon lại chiếm ưu thế về hàm lượng trong các mẫu tinh dầu còn lại [20]. Tổng quan về nghiên cứu về thành phần phenolic trong loài Matricaria chamomilla L. Dược điển châu Âu phiên bản thứ 11 (2023) dùng phương pháp sắc ký lỏng (LC) để xác định hàm lượng apigenin-7-O-glycosid từ dịch chiết bột hoa của loài Matricaria recutita L. với dung môi ethanol 96% trong chuyên luận “Matricaria flower”.

Ngoài ra, trong chuyên luận “Matricaria liquid extract”, phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC) được sử dụng để nhận biết rutosid, hyperosid (quercetin-3-O- glycosid) và acid chlorogenic [21]. Trong nghiên cứu của Maria Valeria Catani và cộng sự năm 2021, trên sáu loại trà Matricaria chamomilla L. tại thị trường Ý cho thấy sự khác nhau về hàm lượng của các hợp chất phenolic, trong đó khoảng nồng độ (tính theo mg hợp chất / g cao chiết) được ghi nhận của một số thành phần là: apigenin (0,25 – 1,22), luteolin (0,27 – 2,60), quercetin (1,07 – 1,97), rutin (1,58 – 4,40), apigenin-7-O-glycosid (3,52 – 11,69), luteolin-7-O-glucosid (4,70 – 9,17), acid chlorogenic (2,90 – 13,25), acid ferulic (2,14 – 3,58), acid caffeic (0,51 – 0,77) và acid p-coumaric (6,11 – 14,80) [22]. Tại Ai Cập, nghiên cứu của El Salawy (2017) chỉ ra rằng bột hoa và rễ của loài Matricaria chamomilla L.

rất giàu flavonoid (luteolin-O-acyl hexosid, quercetin) và các acid phenolic (acid ellagic, catechol, acid chlorogenic) [23]. Trong một nghiên cứu khác, Abeer Abdulkhalek Ghoniem và cộng sự (2021) đã báo cáo về thành phần phenolic trong phân đoạn nước của dịch chiết hoa cúc (Matricaria chamomilla L.) gồm có: myricetin, quercetin, naringenin, acid benzoic, acid rosmarinic [23]. Năm 2019, Elahe Piri và cộng sự đã nghiên cứu định lượng apigenin và luteolin trong dịch chiết methanol của 12 mẫu hoa loài Matricaria chamomilla L. ở các vùng khác nhau thuộc Iran.

Kết quả nghiên cứu ghi nhận mẫu có hàm lượng apigenin cao 7 nhất là 1,19 ± 0,01 mg/g, trong khi hàm lượng cao nhất của luteolin là 2,20 ± 0,0 mg/g [24]. Trong một nghiên cứu vào năm 2023, Qian Li và cộng sự đã công bố 64 hợp chất có trong dịch chiết methanol 70% của Matricaria chamomilla L thu hái tại Trung Quốc bằng phương pháp UHPLC-Q-Orbitrap-HRMS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ