Công Tác Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Của Đảng Bộ Tỉnh Hà Nam Từ Năm 2001 Đến Năm 2011

Luận văn thạc sĩ phân tích công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng tại Hà Nam giai đoạn 2001-2011, cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển đảng.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

111
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM (2001 - 2005)

1.1. Những nhân tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hà Nam tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng

1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.2. Thực trạng xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ Tỉnh Hà Nam trước năm 2001

1.1.3. Yêu cầu mới về xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2001 - 2005)

1.2. Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2001-2005)

1.3. Chủ trương của Đảng bộ Tỉnh Hà Nam về xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2001 - 2005)

1.4. Đảng bộ Tỉnh Hà Nam chỉ đạo xây dựng Tổ chức cơ sở đảng (2001- 2005)

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG (2006-2011)

2.1. Hoàn cảnh lịch sử

2.2. Tình hình thế giới

2.3. Tình hình trong nước

2.4. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về đẩy mạnh xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2006-2011)

2.5. Chủ trương của Đảng của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng Tổ chức cơ sở đảng (2006 - 2011)

2.6. Đảng bộ Tỉnh Hà Nam vận dụng chủ trương của Đảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng vào thực tiễn địa phương

2.7. Sự chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2006-2011)

2.7.1. Chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng về chính trị, tư tưởng

2.7.2. Chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng về tổ chức

2.8. Kết quả xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ Tỉnh Hà Nam (2006- 2011)

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

3.1. Nhận xét về quá trình Đảng bộ Tỉnh Hà Nam xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2001- 2011)

3.1.1. Ưu điểm, nguyên nhân

3.1.2. Hạn chế, nguyên nhân

3.1.3. Một số kinh nghiệm chủ yếu

3.2. Đảng bộ luôn luôn nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh. Luôn coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, gắn kết chặt chẽ xây dựng đội ngũ cán bộ với phát triển đảng viên

3.3. Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Dựa vào quần chúng, thông qua phong trào cách mạng của quần chúng làm tốt công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Công Tác Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Tỉnh Hà Nam 2001 2011

Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng tại tỉnh Hà Nam trong giai đoạn 2001-2011 đã trải qua nhiều thách thức và cơ hội. Đây là thời kỳ quan trọng, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Đảng bộ tỉnh trong việc củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng. Việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

1.1. Vai Trò Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng Trong Hệ Thống Chính Trị

Tổ chức cơ sở đảng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối Đảng với quần chúng nhân dân. Đây là nơi thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời là hạt nhân lãnh đạo chính trị tại địa phương.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Tổ Chức Cơ Sở Đảng Tại Hà Nam

Tổ chức cơ sở đảng tại Hà Nam đã có lịch sử phát triển lâu dài, gắn liền với quá trình cách mạng và xây dựng đất nước. Sự hình thành và phát triển của tổ chức này phản ánh sự trưởng thành của Đảng bộ tỉnh qua các thời kỳ.

II. Những Thách Thức Trong Công Tác Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng 2001 2005

Giai đoạn 2001-2005, công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng tại Hà Nam đối mặt với nhiều thách thức. Những yếu kém trong năng lực lãnh đạo và sự thiếu đồng bộ trong các chính sách đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng.

2.1. Yếu Kém Trong Năng Lực Lãnh Đạo Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng

Năng lực lãnh đạo của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, dẫn đến việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị chưa đạt hiệu quả cao. Điều này cần được khắc phục để nâng cao sức chiến đấu của tổ chức.

2.2. Thiếu Đồng Bộ Trong Chính Sách Xây Dựng Đảng

Sự thiếu đồng bộ trong các chính sách xây dựng đảng đã gây khó khăn cho việc triển khai các hoạt động của tổ chức cơ sở đảng. Cần có sự điều chỉnh kịp thời để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

III. Phương Pháp Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Hiệu Quả 2006 2011

Giai đoạn 2006-2011, Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã áp dụng nhiều phương pháp mới trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng. Những phương pháp này đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức.

3.1. Đổi Mới Nội Dung Và Phương Thức Lãnh Đạo

Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng. Việc này giúp tổ chức cơ sở đảng hoạt động linh hoạt và hiệu quả hơn.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Cán Bộ Đảng Viên

Đào tạo cán bộ đảng viên là một yếu tố then chốt trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp để nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức của cán bộ.

IV. Kết Quả Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Tại Hà Nam 2006 2011

Kết quả công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng tại Hà Nam trong giai đoạn 2006-2011 đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Những thành tựu này không chỉ thể hiện qua số lượng tổ chức cơ sở đảng mà còn qua chất lượng hoạt động của các tổ chức này.

4.1. Tăng Cường Số Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng

Số lượng tổ chức cơ sở đảng đã tăng lên đáng kể, phản ánh sự phát triển của Đảng bộ tỉnh. Điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng đối với việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng.

4.2. Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng

Chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng đã được cải thiện rõ rệt. Các tổ chức này đã thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

V. Kinh Nghiệm Trong Công Tác Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng

Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng tại Hà Nam đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu. Những kinh nghiệm này có thể áp dụng cho công tác xây dựng Đảng trong tương lai.

5.1. Nhận Thức Về Vai Trò Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng

Nhận thức sâu sắc về vai trò của tổ chức cơ sở đảng là yếu tố quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Điều này giúp các tổ chức cơ sở đảng hoạt động hiệu quả hơn.

5.2. Gắn Kết Giữa Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Và Phát Triển Đảng Viên

Gắn kết chặt chẽ giữa việc xây dựng đội ngũ cán bộ và phát triển đảng viên là một trong những kinh nghiệm quan trọng. Điều này giúp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Công Tác Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng

Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng tại tỉnh Hà Nam từ năm 2001 đến 2011 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua trong tương lai.

6.1. Định Hướng Phát Triển Công Tác Xây Dựng Đảng

Định hướng phát triển công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới cần tập trung vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

6.2. Những Thách Thức Cần Đối Mặt

Cần nhận diện và giải quyết những thách thức trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng để đảm bảo sự phát triển bền vững của Đảng bộ tỉnh Hà Nam.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của đảng bộ tỉnh hà nam từ năm 2001 đến năm 2011 001

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng Tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ Tỉnh Hà Nam (2001 - 2005). Chương 2: Đấy mạnh xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2006-2011). Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM (2001 - 2005) 1.

Những nhân tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hà Nam tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng * Điều kiện tự nhiên Tỉnh Hà Nam, có bề dày lịch sử trên 120 năm, là mảnh đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Tỉnh Hà Nam, nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Năm 1997, tỉnh Hà Nam được tái lập, có 05 huyện và 01 thị xã (nay là thành phố) trực thuộc tỉnh với 116 xã, phường, thị trấn (có 15 xã miền núi).

Hà Nam có diện tích là 859,5 km², phía Bắc giáp với thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Bình, phía Nam giáp với tỉnh Ninh Bình, Đông Nam giáp tỉnh Nam Định, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình. Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt. Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23-24 độ C, số giờ nắng trung bình 1300 -1500 giờ/năm, lượng mưa trung bình khoảng 1900mm, độ ẩm trung bình hàng năm 85%. Tỉnh Hà Nam có địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, Phía Tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi với một số hang động thạch nhũ, núi đất và đồi rừng, nhiều nơi có địa hình dốc.

Phía Đông tỉnh là đồi đất thấp xen lẫn núi đá và chủ yếu là đồng bằng do phù sa bồi tụ từ những dòng sông lớn chiếm khoảng 85-90% diện tích của tỉnh. Tỉnh Hà Nam, có một số loại khoáng sản như: than bùn, đá vôi xi măng, sét xi măng, đôlômít, đá vôi hóa chất, đá vôi xây dựng. Mạng lưới giao thông của tỉnh Hà Nam được đánh giá là khá thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế - văn hóa với bên ngoài và trong nội tỉnh bởi địa phận tỉnh nằm trên huyết mạch giao thông Bắc - Nam 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy. Trên địa bàn tỉnh Hà Nam có các quốc lộ đi qua như: quốc lộ 1A, quốc lộ 21A, quốc lộ 21B, quốc lộ 38, đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; các tuyến đường nối các thị trấn với nhau và các thị trấn với thành phố Phủ Lý đều là đường nhựa với quy mô từ 2 làn đến 4 làn xe ô tô; hệ thống giao thông nông thôn của tỉnh đã được đổ nhựa hoặc bê tông nên khá thuận lợi cho việc đi lại giữa các vùng trong tỉnh, nối liền Hà Nam với các tỉnh khác.

Giao thông đường thủy của tỉnh cũng khá phát triển do có nhiều con sông lớn chảy qua địa phận Hà Nam như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Giang, sông Nhuệ,… * Điều kiện kinh tế - xã hội Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Hà Nam có 785.057 người, chiếm 5,6% dân số đồng bằng sông Hồng, mật độ dân cư là 954 người/km², 91,5% dân số sống ở nông thôn, 8,5% dân số sống ở khu vực đô thị. Theo thống kê mới nhất, tổng số người có hộ khẩu thường trú là 846. Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá cao, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện và nâng cao đáng kể. Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng cao, giàu lòng nhân ái, mến khách và giàu sức sáng tạo trong phát triển kinh tế, mở mang văn hóa xã hội.

Đây là một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Về trình độ dân trí, tính đến hết năm 2002 đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 6 huyện, thị xã với số xã là 116 xã, phường, thị trấn, trong đó số xã miền núi có 15 xã chiếm 12,7%; tỷ lệ người biết chữ chiếm 96%. Số học sinh phổ thông năm học 2002-2003 là 76.024 em; số giáo viên toàn tỉnh là 3.253 người chủ yếu là dân tộc kinh. Số thầy thuốc có 1.723 người; bình quân số y, bác sĩ trên 1 vạn dân là 4,4 người, trong đó y, bác sĩ là người dân tộc thiểu số chiếm 0,12% [63].

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên địa bàn tỉnh có 27 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 792.130 người, chiếm 99%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 285 người, chiếm 0,03%; dân tộc Ngái có 136 người, chiếm 0,01%; dân tộc Thái có 115 người, chiếm 0,01%; các dân tộc khác chiếm 0,05% (theo số liệu điều tra dân số tháng 4 năm 2009). Về tôn giáo, tỉnh Hà Nam có ba tôn giáo chính: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin lành. Hiện nay, trên toàn tỉnh có 491 chùa, 230 vị tăng ni, số tín đồ 64.164 người, đạo Thiên Chúa có khoảng 101.000 giáo dân, đạo Tin lành có 193 nhân khẩu [40], thực hiện tốt công tác tôn giáo, xem xét, giải quyết kịp thời nhu cầu chính đáng, hợp pháp của các tổ chức và cá nhân theo quy định, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, góp phần ổn định tình hình trên địa bàn. Tuy nhiên, một số hoạt động tín ngưỡng và lợi dụng tôn giáo có thời điểm còn diễn biến phức tạp.

Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch tốt về cơ cấu kinh tế, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang trên đà phát triển. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng cao, có chuyển biến về cơ cấu sản xuất, quy mô và chất lượng. Sản xuất vượt qua nhiều khó khăn về thời tiết và dịch bệnh, mô hình xây dựng nông thôn mới bước đầu đạt hiệu quả. Về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh: Giai đoạn 2003 - 2012, Hà Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.

Bình quân 10 năm (2003 - 2012), kinh tế Hà Nam tăng trưởng 12,12%, trong đó giai đoạn 2006 - 2010 tăng 13,2%. Năm 2012, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) gấp 3,14 lần năm 2003. 6 tháng đầu năm 2013, GDP tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2012; phấn đấu GDP năm 2013 tăng 10,9% so với năm 2012. Thu nhập bình quân đầu người năm 2012 là 26 triệu đồng, gấp 6,8 lần so với năm 2003; phấn đấu năm 2013 là 30,55 triệu đồng, tăng 19,2% so với năm 2012.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Năm 2003, cơ cấu kinh tế là: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 33,7%, công nghiệp - xây dựng 34,5%, dịch vụ 31,8%. Năm 2012, cơ cấu kinh tế là: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 18,4%, công nghiệp - xây dựng 51,3%, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch vụ 30,3%; mục tiêu hết năm 2013, cơ cấu chuyển dịch như sau: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 17,1%, công nghiệp - xây dựng 52,2%, dịch vụ 30,7%.Thu ngân sách đạt kết quả tốt, năm 2005 đạt 340,5 tỷ đồng, năm 2010 đạt 1.200 tỷ đồng, năm 2012 đạt 1.853 tỷ đồng [59, tr. Hà Nam là một trong những tỉnh có mạng lưới cơ sở y tế, giáo dục, văn hóa và phúc lợi xã hội phát triển.

Về giáo dục, hiện nay, có khoảng 56,3% tổng số trường được công nhận trường chuẩn quốc gia (228/405 trường), trong đó có 50/120 trường mầm non, 131/140 trường tiểu học, 41/120 trường trung học cơ sở,6/25 trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia; 75% số phòng học được kiên cố hoá [10, tr. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn được mở rộng nâng cấp; tổ chức liên kết đào tạo, từng bước đáp ứng yêu cầu đào tạo và nhu cầu học tập nâng cao tay nghề của người lao động. Trên địa bàn tỉnh Hà Nam có các trường: Đại học Hà Hoa Tiên, Cao đẳng Sư phạm Hà Nam, Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình Trung ương I, Cao đẳng Y tế, Cao đẳng Thuỷ lợi Bắc bộ và một số trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến, tiến bộ rõ rệt, nhất là trí dục.

Về y tế, trên địa bàn tỉnh hiện có 12 bệnh viện, 04 phòng khám khu vực và 116 trạm y tế xã/phường thuộc hệ thống nhà nước và hàng trăm cơ sở khám chữa bệnh đông y, khám chữa bệnh tư nhân, cơ sở, đại lý bán thuốc phục vụ chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tổng số y, bác sĩ hiện có khoảng 980 người. Hàng năm đã khám, điều trị cho hàng trăm nghìn lượt người, đảm bảo làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn. Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được đầu tư, phát triển cả về nhân lực và trang thiết bị y tế, cơ bản đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân địa phương và góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyến trên.

Các chương trình y tế được triển khai kịp thời, thực hiện có hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm lớn trên địa bàn. Đến năm 2012, có 91,3% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về y tế xã, 72,4% trạm y tế xã có bác sỹ, 88,8% trạm y tế xã khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Công tác thông tin, phát thanh, truyền hình có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp hoạt động, đóng góp tích cực vào việc đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, của tỉnh nhanh chóng đi vào cuộc sống. Phong trào rèn luyện thân thể, thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội được đông đảo nhân dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hưởng ứng.

Các chính sách xã hội, chính sách đối với người có công, thực hiện mục tiêu giảm nghèo được triển khai kịp thời, nghiêm túc, đúng đối tượng, có hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,7% (năm 2012).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ