Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xã hội đối với vấn đề bạo lực trên cơ sở giới 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Chương 2. Thực hành tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với nam giới gây bạo lực trên địa bàn phườngHồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Kết luận và Khuyến nghị.
- Danh mục tài liệu tham khảo. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ BẠO LỰC TR N CƠ SỞ GIỚI 1. Các khái niệm chính trong đề tài 1.
v t Giới: Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội [10]. Giới tính: Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ. Giới tính là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ môn Sinh vật học dùng để chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ.
Đó là sự khác biệt phổ thông và không thể thay thế được (Mọi người đàn ông đều có những đặc điểm chung về giới tính và mọi người phụ nữ đều có đặc điểm chung về giới tính) [10] nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. ì Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ giáo dục. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.B : Bạo lực được hiểu là “dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ”. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế, bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung.
Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, trẻ em…. Việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát (WHO).B ì :Theo định nghĩa của Đại hội đồng Liên hiệp quốc thì: “Bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do”. Ở Việt Nam, Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 định nghĩa “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”. Hiện nay, trong gia đình có rất nhiều dạng bạo lực và đối tượng bạo lực, nạn nhân của BLGĐ là tất cả các thành viên trong gia đình, từ con cái, anh chị em, vợ chồng đến cha mẹ già… Hiện tại có rất nhiều cách chia các loại hình bạo lực.
Dựa trên các cách thức tiến hành bạo lực, ta có các loại: bạo lực thể xác; bạo lực tinh thần (tâm lý); bạo lực tình dục; bạo lực lao động hoặc kinh tế; bạo lực xã hội. Lý thuyết áp dụng Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng các thuyết chính sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Lý t uyết ậ t ức - hành vi - Khái niệm về nhận thức: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. [6] - Khái niệm về hành vi: hành vi là xử sự của con nguời trong 1 hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định. - Lý thuyết nhận thức - hành vi là một phần của quá trình phát triển lý thuyết hành vi và trị liệu, gần đây lại được xây dựng trên lý thuyết học hỏi xã hội.
Lý thuyết nhận thức - hành vi đánh giá rằng: hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc các lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi. Như vậy, rõ ràng là hành vi không phù hợp phải xuất hiện từ việc hiểu sai và lý giải sai. Quá trình trị liệu phải cố gắng sửa chữa việc hiểu sai đó, do đó, hành vi chúng ta cũng tác động một cách phù hợp trở lại môi trường. + Quan điểm của Sheldon về Trị liệu hành vi - nhận thức cho cá nhân: Theo ông một thành tố quan trọng trong trị liệu hành vi chính là việc lựa chọn các yếu tố tăng cường, thúc đẩy để củng cố hành vi.
Các yếu tố này cần được quan sát, khái quát hóa và mô hình hóa (học hỏi qua trải nghiệm), điều này đòi hỏi chúng ta hành động dựa trên nhận thức của chúng ta về thế giới về cuộc sống. Sheldon cũng chỉ ra việc học hỏi thông qua việc lập mô hình là nhận thức, điều này có nghĩa là chúng ta tự suy nghĩ về bản thân trong các tình huống mà chúng ta đang quan sát, chỉ ra được chúng ta hành động ra sao. Trong thực tế, việc thúc đẩy cách nghĩ như trên là rất hữu ích.Theo ông, lượng giá là một khía cạnh quan trọng trong cách tiếp cận hành vi- nhận thức. + Đánh giá của Scott (1989) về cách tiếp cận nhận thức hành vi tương phản với Sheldon qua việc nhấn mạnh đến những hình thức can thiệp về nhận thức.
Đánh giá của ông về can thiệp nhận thức chính là việc chúng được tóm lược, có khả năng ứng dụng rộng rãi, được cấu trúc ở cấp độ cao, dễ dàng học 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hỏi và có hiệu quả. Ông áp dụng để đánh giá trong bốn lĩnh vực về hành vi của trẻ, rối loạn xúc cảm như lo lắng và thất vọng, các vấn đề liên quan cá nhân như vấn đề hôn nhân hay thiếu kỹ năng xã hội và những rối loạn về việc tự kiểm soát việc lạm dụng chất ma túy. - Thuyết trị liệu nhận thức - hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy - BCT) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội. + Nội dung: thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định.
Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp. Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi. Giải thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R. + Quan điểm về nhận thức và hành vi: Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài.
Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực. Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại. Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com => Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề.
Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm. Nội dung cơ bản của thuyết nhu cầu Lý thuyết nhu cầu do Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng xây dựng vào những năm 1950. Lý thuyết của ông được xây dựng nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần.Thang nhu cầu của Maslows Thuyết này giúp chúng ta hiểu về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Trong đó các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao.
Cụ thể: - Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục. Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người. Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được. Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này.