Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC HỖ TRỢ TRẺ EM NGHÈO ĐẾN TRƯỜNG 1. Khái niệm nghiên cứu: 1. Khái niệm trẻ em nghèo: 1. Khái niệm trẻ em: Khái niệm trẻ em theo quy định của pháp luật: có nhiều khái niệm khác nhau về trẻ em Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp của quốc gia thành viên quy định tuổi thành niên sớm hơn” Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15/6/2004 quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Trong Khoa học, khái niệm trẻ em được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận của mỗi khoa học cụ thể(Tài liệu tập công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, 2012) Trong Triết học, khái niệm trẻ em được xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội.
Con người sáng tạo ra lịch sử và trẻ em là con đẻ của thời đại, của xã hội. Trong mọi thời đại, tương lai của một quốc gia, của một dân tộc đều tùy thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình và xã hội. Trong Tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân cách con người. Các nhà tâm lý học rất quan tâm nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ em trong độ tuổi từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì Trong xã hội học, trẻ em được nhìn nhận như là một nhóm nhân khẩu đặc biệt trong quá trình xã hội hóa, đang học đóng vai trò cũng như tiếp thu kiến thức, kỹ năng để tham gia hành động xã hội với tư cách là một chủ thể có độ tuổi từ 16 trở xuống.
12 Thư viện Đại học Thăng Long Khái niệm trẻ em theo góc độ công tác xã hội: Trẻ em được sinh ra với những đặc điểm nhất định tạo ra sự khác biệt cá nhân trên các khía cạnh: Thể chất (giới tính, hình dạng, vân tay…), khả năng tư duy và những cá tính của chúng. Chính vì vậy trong xã hội, trẻ em được các cá nhân trong xã hội nhìn nhận theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Dưới đây là 4 góc độ nhìn nhận về trẻ và được thể hiện thông qua các hành động can thiệp giúp đỡ của xã hội. Tình thương: Theo góc độ này trẻ em được coi là những chủ thể còn non nớt về thể chất, trí tuệ vì thế chúng phải là những người được hưởng tình thương không chỉ của những người thân trong gia đình mà còn của xã hội thông qua những hành động của các cá nhân với tư cách là những nhà từ thiện như: Bảo vệ, che chở giúp trẻ tránh không bị lâm vào những tình cảnh thiếu ăn, thiếu mặc… Tuy nhiên đó chỉ là hành động nhân ái, kêu gọi ý thức trách nhiệm, vì thế vẫn chỉ dừng lại ở những hành động giải quyết trước mắt mang tính tình huống.
Nhân đạo: Với quan niệm cho rằng trẻ em là những đứa trẻ xã hội cần phải bảo vệ ngay tức thì, vì thế hệ quả của cách giải quyết là: Chấm dứt tức thời những nỗi đau khổ và những hiểm nguy mà trẻ đã và đang phải gánh chịu, còn vấn đề cốt lõi được coi là nguyên nhân dẫn tới tình trạng này ở trẻ lại vẫn chưa được giải quyết triệt để. Phát triển: Với quan niệm cho rằng trẻ em và người lớn đều là những con người với các đặc trưng và nhu cầu của con người, là những công dân của một quốc gia, thành viên của một cộng đồng nhất định vì thế trẻ em cần phải có các điều kiện thích hợp để phát triển, trưởng thành, hữu ích, có năng lực như người lớn, vì thế nhu cầu của trẻ cần phải được xem xét từ quan điểm của người lớn. Sự sống còn và phát triển: Tổng hợp từ hai cách nhìn trên. Cách nhìn nhận này vẫn còn hạn chế do nhìn nhận trẻ em tách rời khỏi môi trường sống: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của chúng, vì thế không thể giải quyết được tận gốc của vấn đề.
13 Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu trẻ em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi 1. Khái niệm nghèo: Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc, Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hộithừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương. Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng.
Khái niệm nghèo đa chiều: Theo tuyên bố Liên Hiệp Quốc, tháng 6 năm 2008: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”. Như vậy có thể hiểu nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1614/QĐ- TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.” Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập. 14 Thư viện Đại học Thăng Long Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Khái niệm trẻ em nghèo: Khái niệm của Liên hiệp quốc về nghèo trẻ em (2007): Trẻ em sống trong nghèo đói bị thiếu thốn dinh dưỡng, vệ sinh và nước sạch, sự tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, nhà ở, giáo dục, sự tham gia xã hội, và bảo vệ, và khi mà sự thiếu hụt nghiêm trọng các hàng hóa và dịch vụ đánh vào tất cả mọi người thì nó đe dọa và làm thiệt hại trẻ em hơn hết, khiến các em không thể được hưởng các quyền của mình, không thể phát triển hết các khả năng của mình và không thể tham gia như những thành viên chính thức của xã hội.
Khái niệm nghèo trẻ em ở Việt Nam: là những trẻ em không được tiếp cận đến những nhu cầu cơ bản và trẻ em bị chối bỏ các quyền cơ bản có thể do hậu quả của hoàn cảnh hoặc đặc điểm đặc biệt. Trên thực tế thì tuyệt đại đa số trẻ em chưa tạo ra được thu nhập cũng như không tự quyết định được việc chi tiêu của mình, hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường sống, sự bao cấp của gia đình và sự bảo trợ của xã hội. Ngoài ra, trẻ em còn có những nhu cầu đặc biệt khác để phát triển về thể chất, tinh thần và trí tuệ. Unicef và Bộ LĐTB&XH đã sử dụng khái niệm trẻ em nghèo đa chiều dựa trên 8 nhu cầu cơ bản của trẻ trên các lĩnh vực: Giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, lao động trẻ em, vui chơi giải trí, sự thừa nhận và bảo trợ xã hội.
Theo quan điểm đa chiều, một trẻ em được xác định là nghèo khi không được đảm bảo ít nhất 2 trong 8 nhu cầu trên.Khái niệm nghèo đa chiều đã được công nhận trong Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2011- 2020 của Việt Nam. Tuy nhiên, mới áp dụng 6 tiêu chí nhu cầu của trẻ em (trừ 2 tiêu chí: nhu cầu về dinh dưỡng và vui chơi giải trí) để đánh giá công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nhu cầu cơ bản của trẻ em như sau: Giáo dục: Một trẻ em được cho là nghèo về giáo dục nếu thiếu hụt một mức tối thiểu giáo dục, bao gồm 2 chỉ tiêu là trẻ trong độ tuổi 5-15 không được đi học đúng tuổi, trẻ trong độ tuổi 5-15 không hoàn thành cấp tiểu học. 15 Y tế: Trẻ em từ 0-4 tuổi không đến cơ sở y tế trong 12 tháng qua.
Nhà ở: Trẻ em từ 0-15 tuổi sống trong ngôi nhà không có điện sinh hoạt, trẻ em 0-15 tuổi sống trong hộ gia đình có nhà ở không đạt tiêu chuẩn. Nước sạch và vệ sinh: Trẻ em sống trong ngôi nhà không có hố xí hợp vệ sinh, hay trẻ em sống trong hộ gia đình không có nguồn nước uống sạch. Lao động trẻ em: Trẻ em trong độ tuổi 6-15 tuổi phải làm việc. Sự thừa nhận và bảo trợ xã hội: Trẻ em sống trong hộ gia đình mà người chủ hộ không có khả năng lao động.
Một trẻ em được xác định là nghèo khi không được đáp ứng tối thiểu 2/6 các nhu cầu trên. Khái niệm công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ trẻ em nghèo đến trường: 1.1 Khái niệm công tác xã hội: Có rất nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau về công tác xã hội. Khái niệm của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montreal, Canada (IFSW): Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề.