lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận tốt nghiệp bao gồm ba chƣơng với tiêu đề các chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận hoạt động thẩm định giá tài sản bảo đảm phục vụ cho vay tại các ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng thẩm định giá tài sản bảo đảm tạiNgân hàng TMCP Á Châu – Bộ phận Nam Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định giá tài sản bảo đảm tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Bộ phận Nam Hà Nội. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG ĐỊNH TÀI SẢN BẢO ĐẢM PHỤC VỤ CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
ĐẢM BẢO AN TOÀN BẰNG TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.Lịch sử phát triển hình thành của hệ thống ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa.Quá trình phát triển của kinh tế là điều kiện đòi hỏi sự phát triển của hệ thống ngân hàng, đến lƣợt mình sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực phát triển kinh tế. Ở Việt Nam, Pháp lệnh Ngân hàng ban hành ngày 23/5/1990 xác định: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Đứng trên góc độ tài chính, Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn.Ngân hàng thƣơng mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan hiếm. Thông qua tìm hiểu một vài khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại, vậy: “Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội” Ngân hàng thƣơng mại mang một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, hoạt động của NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời (bao gồm hai hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng). Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM đáp ứng đầy đủ điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (vốn pháp định, phƣơng án kinh doanh,…) thì mới đƣợc phép hoạt động trên thị trƣờng.
Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thƣờng có ảnh hƣởng sâu sắc, mang tính chất dây chuyền đối với nền kinh tế. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng Để có thể tiến hành các hoạt động cho vay và các hoạt động khác, các ngân hàng thƣơng mại cần phải tìm kiếm nguồn vốn, đây chính là hoạt động đầu tiên và cơ bản nhất của ngân hàng thƣơng mai –hoạt động huy động vốn.Sau đó, nguồn vốn này sẽ đƣợc sử dụng để thực hiện hoạt động cơ bản thứ hai của ngân hàng –hoạt động sử dụng vốn. Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản than Ngân hàng cũng nhƣ đối với xã hội. Trong hoạt động này, Ngân hàng thƣơng mại đƣợc sử dụng những biện pháp và công cụ cần thiết mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi của trong xã hội, tạo nguồn vốn để cho vay đối với nền kinh tế cũng nhƣ tạo ra nguồn vốn để đáp ứng các hoạt động của ngân hàng.
Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại bao gồm: vốn điều lệ, vốn huy động, các quỹ dự trữ, vốn đi vay, vốn tiếp nhận, vốn khác. Nghiệp vụ sử dụng vốn là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn đã hình thành của ngân hàng, chúng thuộc bên Có của bang cân đối tài sản nên còn đƣợc gọi là nghiệp vụ Có. Thành phần Tài sản Có của ngân hàng gồm: dự trữ, cho vay, đầu tƣ và tài sản Có khác. Trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế nhƣ hiện nay thì xu hƣớng thành lập những NHTM ngày càng có quy mô lớn hơn nên các dịch vụ của NHTM không ngừng đƣợc hoàn thiện và ngày càng đa dạng hơn, bao gồm các hoạt động kinh doanh sau: Các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán,…) Nhận bảo quản các tài sản quý giá, các giấy tờ, chứng thƣ quan trọng.
Kinh doanh ngoại hối Các hoạt động về bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu 1. Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Việc phân loại các hình thức tín dụng thƣờng đƣợc dựa vào một số tiêu thức nhất định. Căn cứ đó, ngân hàng thiết lập quy trình cho vay, nâng cao hiệu quả tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng đƣợc tốt hơn.
Cụ thể căn cứ vào mục đích, tín dụng NHTM có thể chia thành: cho vay bất động sản, cho vay đối với các tổ chức tài chính, cho vay nông nghiệp, cho vay công nghiệp và thƣơng nghiệp, cho vay đối với cá nhân, cho vay khác, tài trợ thuê mua… Còn nếu căn cứ kỳ hạn cho vay, tín dụng NHTM có thể chia thành ba loại: cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn. Nếu dựa vào hình thái cho vay thì tín dụng NHTM đƣợc chia thành hai loại: tín dụng bằng tiền, tín dụng bằng tài sản. Khi căn cứ vào phương thức cho vay thì tín dụng NHTM đƣợc chia thành: Cho vay từng lần, cho vay hạn mức, cho vay dự án đầu tƣ, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay thấu chi, cho vay thông qua hình thức phát hành thẻ tín dụng, cho vay khác… Còn nếu căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng thì tín dụng NHTM đƣợc chia thành 2 loại: Tín dụng không bảo đảm, tín dụng có bảo đảm. Biện pháp bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Đảm bảo tín dụng là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho khách hàng vay Hoạt động cho vay là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, vì vậy bảo đảm tiền vay có thể sử dụng nhƣ là một trong các cách thức nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Nguyên tắc bảo đảm tín dụng Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ đƣợc đảm bảo Tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải có giá trị và có thị trƣờng tiêu thụ Có đầy đủ cơ sở pháp lý để ngƣời cho vay có quyền xử lý tài sản dùng làm bảo đảm tiền vay Các hình thức đảm bảo tín dụng chủ yếu Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp: thế chấp bất động sản và thế chấp giá trị quyền sử dụng đất Bảo đảm tín dụng bằng cầm cố: nhƣ xe cộ, máy móc, hàng hóa, tàu biển, máy bay, tiền trên tài khoản tiền gửi, giấy tờ có giá, quyền tài sản phái sinh từ quyền tác giả, lợi tức và quyền phái sinh từ tài sản cầm cố… Bảo đảm tín dụng bằng hình thức bảo lãnh: là việc bên thứ ba (Bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho Bên có nghĩa vụ (Bên đƣợc bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩ vụ (Điều 361 bộ luật dân sự 2005). Bảo đảm tín dụng bằng tài sản hình thành từ vốn vay: là việc khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng. THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1. Tổng quan về thẩm định giá tài sản 1.
Khái niệm về thẩm định giá tài sản Thẩm định giá tài sản có nguồn gốc từ khoa học kinh tế cổ điển và hiện đại. Các nguyên tắc và kỹ thuật thẩm định giá đƣợc thiết lập và tƣơng tự nhau giữa các nƣớc trƣớc những năm 40 của thế kỷ 20; nhƣng trên thế giới thẩm định giá chỉ thật sự phát triển là một hoạt động dịch vụ chuyên nghiệp từ sau những năm 40 của thế kỷ 20. Ở các nƣớc, ngƣời ta thƣờng sử dụng hai từ tiếng Anh là Appraisal và Valuation để nói đến thẩm định giá.Nguồn gốc từ ngữ của cả hai thuật ngữ này là từ tiếng Pháp.Valuation xuất hiện vào năm 1529 còn Appraisal từ năm 1817. Hai thuật ngữ đều có chung ý nghĩa, đó là sự uớc tính, đánh giá và có hàm ý là cho ý kiến của một nhà chuyên môn về giá trị của một vật phẩm nhất định.
Khi nghiên cứu về thẩm định giá, giới nghiên cứu học thuật trên thế giới đã đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau: Theo từ điển Oxford: “Thẩm định giá là sự ƣớc tính giá trị bằng tiền của một vật, của một tài sản”; “là sự ƣớc tính giá trị hiện hành của tài sản trong kinh doanh”.Seabrooke – Viện đại học Portsmouth, Vƣơng quốc Anh : “ Thẩm định giá là sự ƣớc tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã đƣợc xác định”.