Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Trong đó gồm 03 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Cơ khí và Xây dựng Hoàng Thịnh. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Cơ khí và Xây dựng Hoàng Thịnh. - Chƣơng 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Cơ khí và Xây dựng Hoàng Thịnh.
Phần III: Kết luận và kiến nghị 6 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP (Công ty TNHH Cơ khí và Xây dựng Hoàng Thịnh là một công ty có quy mô nhỏ và vừa áp dụng Thông tƣ 133/2016/TT – BTC, nên trong phần cơ sở lý luận của chƣơng 1 này sẽ trình bày các nội dung với TT 133/2016/TT-BTC) 1. Những vấn đề chung của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 1.1 Các khái niệm liên quan đến công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 1.1 Khái niệm về bán hàng Bán hàng là quá trình cuối cùng trong chu kỳ kinh doanh. Thông qua bán hàng mà giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm đƣợc thực hiện trên thị trƣờng giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn bỏ ra. Cũng chính thông qua quá trình bán hàng mà bộ phận giá trị gia tăng tạo ra trong quá trình sản xuất đƣợc thực hiện và biểu hiện dƣới hình thức lợi nhuận.
Nếu đẩy mạnh đƣợc quá trình bán hàng sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Quá trình bán hàng đƣợc hình thành khi quyền sở hữu về hàng hóa, dịch vụ đã chuyển từ ngƣời bán sang ngƣời mua. (Nguồn: Theo giáo trình “ Nguyên lý kế toán của TS. Phan Thị Minh Lý, 2008”) 1.2 Khái niệm về xác định kết quả kinh doanh Theo Điều 68 thông tƣ 133/2016/TT-BTC và Điều 96 thông tƣ 200/2014/TT-BTC: Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tƣ tài chính và hoạt động khác trong một thời kỳ nhất định.
Biểu hiện của kết quả kinh doanh là số lãi (hoặc số lỗ). Xác định kết quả kinh doanh: là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh đã bỏ ra và thu nhập kinh doanh đã thu về trong kỳ. Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thì kết 7 quả bán hàng là lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lỗ. Việc xác định kết quả kinh doanh thƣờng đƣợc tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh, thƣờng là cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp.3 Một số khái niệm liên quan Khái niệm doanh thu (Chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác): là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đƣợc trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thƣờng của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị lợi ích kinh tế đã thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không đƣợc coi là doanh thu. Các khoản vốn góp của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhƣng không là doanh thu Điều kiện ghi nhận doanh thu: Doanh thu bán hàng đƣợc ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau: (a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho ngƣời mua; (b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa nhƣ ngƣời sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; (c) Doanh thu đƣợc xác định tƣơng đối chắc chắn; (d) Doanh nghiệp đã thu hồi đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; (e) Xác định đƣợc chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Một số khái niệm liên quan đến các khoản giảm trừ doanh thu theo Chuẩn mực kế toán số 14 (VAS14) 8 - Chiết khấu thƣơng mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua với khối lƣợng lớn.
- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho ngƣời mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. - Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lƣợng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Giá vốn hàng bán: Là giá trị vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, BĐSĐT đã đƣợc bán của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian hoặc là giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp đã bán đƣợc của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian. Giá vốn hàng bán phản ánh mức tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ,.cũng nhƣ tham gia xác định lợi nhuận của doanh nghiệp trong một chu kỳ kinh doanh.
Giá vốn hàng bán bao gồm chi phí của tất cả các mặt hàng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc sản xuất hoặc mua hàng hóa, dịch vụ đã đƣợc bán. (Theo điều 62, Thông tư 133/2016/TT-BTC) Chi phí thuế TNDN: Là số thuế TNDN phải nộp tính trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế thu nhập. Chi phí thuế thu nhập bao gồm chi phí thuế thu nhập hiện hành và chi phí thuế thu nhập hoãn lại. Nguyên lý kế toán.Hồ Chí Minh.
NXB: Phương Đông) Chi phí quản lý kinh doanh: Chi phí QLDN gồm các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí quản lý hành chính và các chi phí chung khác kiên quan đến hoạt động của cả doanh nghiệp. Chi phí QLDN đƣợc kế toán chi tiết theo các nội dung khoản mục chi phí nhƣ: Chi phí lƣơng, BHXH, kinh phí công đoàn, BHYT, chi phí vật liệu, chi phí khấu hao TSCĐ, … (Trần Đình Phụng (2012). Nguyên lý kế toán.Hồ Chí Minh. NXB: Phương Đông) Thu nhập khác: “Là giá trị các khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thƣờng xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu.
Nguyên lý kế toán.Hồ Chí Minh. NXB: Phương Đông) 9 Chi phí khác: Chi phí khác là các khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thƣờng của doanh nghiệp gây ra; cũng có thể là những khoản chi phí bị bỏ sót từ những năm trƣớc. Nguyên lý kế toán.Hồ Chí Minh. NXB: Phương Đông) 1.2 Các phương thức bán hàng Mỗi doanh nghiệp có thể bán hàng theo các phƣơng thức khác nhau nhƣ: bán buôn hoặc bán lẻ.
Trong mỗi phƣơng thức bán hàng có thể thực hiện nhiều hình thức khác nhau : bán buôn, bán lẻ, bán gửi đại lý, bán hàng đại lý ký gửi. (1) Phương thức bán buôn hàng hóa: là phƣơng thức bán hàng chủ yếu cho các đơn vị thƣơng mại hoặc các doanh nghiệp sản xuất để thực hiện bán ra hoặc gia công chế biến rồi bán ra. Đặc điểm của bán buôn là vẫn nằm trong lĩnh vực lƣu thông chƣa đi vào lĩnh vực dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chƣa đƣợc thực hiện. Có hai phƣơng thức bán buôn hàng hóa nhƣ sau: Bán buôn hàng hóa qua kho: Bán buôn hàng hóa qua kho là phƣơng thức bán buôn hàng hóa mà trong đó hàng hóa phải đƣợc xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp.
Bán buôn vận chuyển thẳng: Đây là hình thức bán hàng không đem về nhập kho bến bán mà giao ngay hoặc chuyển bán ngay cho khách hàng. (2) Phương thức bán lẻ hàng hóa: là phƣơng thức bán hàng trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng, các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Theo phƣơng thức hàng hóa ra khỏi lĩnh vực lƣu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã đƣợc thực hiện. Bán lẻ thƣờng với số lƣợng ít và giá ổn định.
Phƣơng thức bán lẻ hàng hóa bao gồm: hình thức bán lẻ thu tiền tập trung, hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp và hình thức bán lẻ tự phục vụ. (3) Phương thức bán hàng qua đại lý hay ký gửi hàng hóa: Là hình thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp giao hàng cho các cơ sở đại lý, ký gửi để cho các cơ 10 sở này trực tiếp bán hàng. Sau khi bán đƣợc hàng cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp và đƣợc hƣởng một khoản tiền đƣợc gọi là hoa hồng đại lý. Trong hình thức này hàng gửi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chỉ đƣợc coi là đã tiêu thụ hàng hóa khi đại lý thông báo là hàng đã bán. Khoản hoa hồng mà doanh nghiệp phải trả cho đại lý đƣợc coi là chi phí bán hàng của doanh nghiệp.3 Mối quan hệ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Bán hàng là công đoạn cuối cùng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Còn xác định kết quả kinh doanh là công tác số liệu hóa hoạt động tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ quan trọng để đơn vị quyết định tiêu thụ hàng hóa nữa hay không. Do đó có thể nói giữa bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có mối quan hệ mật thiết.
Ta có thể khẳng định kết quả kinh doanh là mục tiêu hàng đầu và mục đích cuối cùng của đơn vị hƣớng tới, còn bán hàng chính là “phƣơng tiện trực tiếp” để thực hiện. Chúng thực sự có liên kết và có mối quan hệ qua lại, tác động, ảnh hƣởng đến nhau.4 Nhiệm vụ và yêu cầu của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Nhiệm vụ và yêu cầu của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của kế toán bao gồm: Thứ nhất là ghi chép số lƣợng hàng đã bán, số lƣợng hàng xuất kho đƣa đi tiêu thụ, số lƣợng hàng gửi đi bán và tình hình tiêu thụ của số hàng này một cách đầy đủ, nhanh chóng; Xác định chính xác và đầy đủ doanh thu bán hàng; Tổ chức tốt công tác ghi sổ chi tiết hàng hoá trong đợt bán hàng đảm bảo phản ánh đúng số lƣợng, chủng loại, giá trị hàng hoá. Thứ hai là kế toán cần kịp thời ghi chép và phản ánh doanh thu bán hàng và doanh thu thuần.