mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục; luận văn đƣợc bố cục theo 4 chƣơng sau: Chƣơng 1.Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu công tác đào tạo nguồn nhân lực. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3.Thực trạng về công tác đào tạo nguồn nhân lực của Công ty cổ phần chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Phƣơng hƣớng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần chứng khoán ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1.
Cơ sở lý luận về công tác đào tạo nguồn nhân lực 1. Khái niệm và vai trò đào tạo nguồn nhân lực 1. Các khái niệm cơ bản Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời. Nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh.
Trƣớc hết với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con ngƣời, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác.Thứ hai, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con ngƣời. Với tƣ cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện là một số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định (8, Trang11). Trƣớc đây, nghiên cứu về nguồn nhân lực con ngƣời thƣờng nhấn mạnh đến chất lƣợng và vai trò của nó trong sự phát triển kinh tế, xã hội.
Trong lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế, con ngƣời đƣợc coi là một phƣơng tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trƣởng kinh tế bền vững, thậm chí con ngƣời đƣợc coi là nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển – vốn nhân lực. Về phƣơng diện này Liên Hiệp Quốc cho rằng nguồn lực con ngƣời là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Ngày nay, nguồn nhân lực còn bao hàm khía cạnh về số lƣợng, không chỉ những ngƣời trong độ tuổi mà cả những ngƣời ngoài độ tuổi lao động (3, Trang8). 5 Từ những phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai.
Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội (8,Trang8). Có thể nói, Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phƣơng, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng lao động xã hội của con ngƣời biến thành nguồn vốn con ngƣời đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lƣợng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa. Các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con ngƣời không chỉ đơn thuần là lực lƣợng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia đƣợc đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
Để nâng cao vai trò của con ngƣời, của nguồn nhân lực trong tổ chức thì việc quan tâm tới công tác đào tạo nguồn nhân lực là một yếu tố cần thiết và quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạođƣợc hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình. Nói một cách cụ thể, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc trong hiện tại một cách hoàn hảo hơn. Đào tạo nguồn nhân lực: khi nói đến đào tạo nguồn nhân lực là nói đến việc trang bị cho ngƣời lao động kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên 6 nghiệp, kiến thức quản lý…do đó ta có thể hiểu một cách tổng quát, đào tạo nguồn nhân lực là hoạt động làm cho con ngƣời trở thành ngƣời có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, là quá trình học tập để làm cho ngƣời lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ (8, Trang8).
Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con ngƣời. Việc đào tạo nguồn nhân lực không chỉ đƣợc thực hiện bên trong một số tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác đƣợc thực hiện từ bên ngoài, nhƣ học việc, học nghề và hành nghề.Kết quả của quá trình đào tạo nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lƣợng và phát triển nguồn nhân lực đó. Hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong những yếu tố quyết định là chất lƣợng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực bao gồm cả lao động quản lý và lao động hoạt động trực tiếp và gián tiếp trong quá trình sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp.
Nếu đƣợc đào tạo cơ bản về kiến thức, giáo dục thƣờng xuyên về đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp cho ngƣời lao động, việc nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả lao động sẽ đƣợc duy trì và phát triển (2-3). Thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, ngƣời lao động hiểu đƣợc bản chất công việc, thành thạo các kỹ năng nghiệp vụ, làm việc có trách nhiệm, gắn bó với doanh nghiệp và dĩ nhiên hiệu suất lao động tăng, thu nhập của công nhân ổn định, doanh nghiệp phát triển bền vững (2, Trang34). Chất lƣợng nguồn nhân lực là lợi thế so sánh hàng đầu của doanh nghiệp bởi vì nguồn nhân lực chất lƣợng cao sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì và phát triển của doanh nghiệp (14, Trang28).Những thay đổi gần đây trong môi trƣờng kinh doanh là làm cho chức năng quản lý nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các tổ chức duy trì khả năng 7 cạnh tranh và chuẩn bị cho tƣơng lai.Áp lực cạnh tranh và khách hàng ngày càng đòi hỏi doanh nghiệp phải có những sản phẩm chất lƣợng cao và những dịch vụ đi kèm, việc đổi mới công nghệ cần phải đƣợc đào tạo. Nhân viên cần đƣợc trang bị các kỹ năng tinh vi hơn trong việc giải quyết vấn đề (15).
Đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp và bồi dƣỡng xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có năng lực, trình độ và phẩm chất, uy tín cao, sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lƣợng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững và góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong quá trình phát triển của xã hội và sự hội nhập của nền kinh tế hiện nay yêu cầu cần phải luôn đổi mới, nâng cao chất lƣợng sản phẩm để có thể cạnh tranh và mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nƣớc.Đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết (11, Trang 48). Nguồn nhân lực là lực lƣợng nòng cốt của doanh nghiệp. Việc thực hiện phát triển lực lƣợng lao động chất lƣợng cao là vấn đề sống còn trong doanh nghiệp bởi vì đây là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lƣợng sản phẩm và giá thành sản phẩm.
Số và chất lƣợng nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở đây là nói đến việc đào tạo kiến thức quản lý, trình độ kỹ năng tay nghề trong công việc của lao động. Chất lƣợng tăng, giá thành hạ sẽ tạo ra sức mạnh vững chắc để các doanh nghiệp cạnh tranh lành manh trên thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Đào tạo nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay. Làm gia tăng năng suất lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Nâng cao tính ổn định và năng động của doanh nghiệp. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực đối với xã hội Về mặt xã hội đào tạo là vấn đề sống còn của một đất nƣớc, nó quyết định sự phát triển của xã hội, là một trong những giải pháp để chống lại thất nghiệp.Đầu tƣ cho đào tạo và giáo dục là những khoản đầu tƣ chiến lƣợc chủ chốt cho sự phồn vinh của đất nƣớc.Đào tạo là cơ sở thế mạnh, là nguồn gốc thành công của các nƣớc phát triển mạnh trên thế giới nhƣ Anh, Pháp, Nhật…Đó cũng chính là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực đối với doanh nghiệp Về phía doanh nghiệp đào tạo đƣợc xem là yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lƣợc của tổ chức. Chất lƣợng nguồn nhân lực trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của doanh nghiệp.
Nó giúp doanh nghiệp giải quyết đƣợc các vấn đề về tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận, và giúp cho doanh nghiệp thích ứng kịp với sự thay đổi của xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực là để đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc của tổ chức, nghĩa là đáp ứng đƣợc nhu cầu tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, để chuẩn bị và bù đắp vào những gì bị thiếu, bị bỏ trống. Sự bù đắp, bổ sung này diễn ra thƣờng xuyên nhằm làm cho doanh nghiệp hoạt động trôi chảy và đó là hoạt động sinh lợi đáng kể. Quá trình đào tạo nguồn nhân lực thành công sẽ mang lại những lợi ích sau: Cải tiến về mặt năng suất, chất lƣợng và hiệu quả công việc.
Giảm bớt đƣợc sự giám sát, vì khi ngƣời lao động đƣợc đào tạo, trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết họ có thể tự giám sát đƣợc. Tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động. Đạt đƣợc yêu cầu trong công tác kế hoạch hóa nguồn nhân lực.