CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC HÌNH THỨC PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm phòng vệ thương mại Hiện nay, trên thế giới không tồn tại định nghĩa chung và chính xác nhất về phòng vệ thương mại, vấn đề này được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: “trade remedies” (phòng vệ thương mại), “escape clause” (điều khoản trốn thoát), “contingency measures” (các biện pháp dự phòng), “safety valse” (van an toàn). Mỗi nước đều có khái niệm riêng về phòng vệ thương mại, ví dụ như: Bộ Ngoại giao và thương mại Úc định nghĩa rằng “Trade remedies are trade policy tools that allow governments to take remedial action against imports which are causing material injury to a domestic industry”.
Có nghĩa là “Phòng vệ thương mại là chính sách thương mại do chính phủ ban hành, cho phép chính phủ đưa ra những biện pháp khắc phục đối với hàng hóa nhập khẩu đang gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước”. Còn đối với Việt Nam, điều 67 Luật Quản lý Ngoại thương quy định “Các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp và biện pháp tự vệ do Bộ trưởng Bộ Công thương quyết định áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam trong những trường hợp cụ thể”. Theo đó, các biện pháp phòng vệ thương mại được hiểu là những biện pháp tạm thời về thương mại, nhằm ngăn chặn, hạn chế hàng hóa nhập khẩu trong những trường hợp cụ thể, bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi những thiệt hại trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Ngoài được dùng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước, các biện pháp phòng vệ thương mại còn được sử dụng như hàng rào ngăn cản sự gia tăng mạnh mẽ, ồ ạt của hàng nhập khẩu gây ra cạnh tranh không lành mạnh.
Do đó, nếu được sử dụng đúng cách, phòng vệ thương mại không có mâu thuẫn với tự do hóa thương mại. Phòng vệ thương mại có thể được coi là một công cụ thực tế, tạm thời để giải quyết các chi phí điều chỉnh do tự do hóa thương mại gây ra cũng như giảm bớt áp lực trong nước 8 chống lại tự do hóa. Tuy nhiên, nếu bị lạm dụng, và được sử dụng như một công cụ trá hình thì chúng sẽ đi ngược lại với mục tiêu tích cực của thương mại tự do, trở thành hàng rào thương mại ngăn cản gia nhập thị trường. Vì thế WTO đã đưa ra những nguyên tắc chặt chẽ về thủ tục nhằm đưa việc áp dụng những biện pháp phòng vệ thương mại vào khung khổ cụ thể nhằm hạn chế tối đa tình trạng lạm dụng các biện pháp này.
Tóm lại, phòng vệ thương mại là công cụ chính sách được Tổ chức thương mại thế giới WTO cho phép các nước thành viên sử dụng với mục đích bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước các hành vi cạnh tranh được coi là không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu như bán phá giá hay trợ cấp từ chính phủ; hoặc trong trường hợp hàng hóa tăng mạnh gây ảnh hưởng tới ngành sản xuất nội địa. Các hình thức phòng vệ thương mại 1. Chống bán phá giá a. Khái niệm Quy định tại điều VI Hiệp định GATT và điều 2.1 Hiệp định ADA, bán phá giá là một hình thức phân biệt giá cả, khi giá của hàng hóa xuất khẩu khi xuất khẩu đến một quốc giá nào đó thấp hơn giá mà chính quốc gia xuất khẩu đang bày bán trong nước.
Chính xác hơn, điều 2.1 của Hiệp định ADA quy định, một sản phẩm được coi như là bán phá giá nếu được bày bán tại quốc gia khác với giá trị thấp hơn giá trị thông thường của nó, nếu giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu đến quốc gia khác thấp hơn giá so sánh trong điều kiện thương mại thông thường với sản phẩm tương tự khi nó được bày bán, tiêu thụ tại quốc gia xuất khẩu. Như vậy, chống bán phá giá là biện pháp được cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu có bán phá giá và điều đó gây thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất sản phẩm tương tự nội địa của nước nhập khẩu. Trong WTO, đây được xem như là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài đối với ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu. Và các “vụ kiện chống bán phá giá”, tiếp đó là các biện pháp chống bán phá giá (kết quả của các vụ kiện) là một hình thức để hạn chế hành vi này.
Vụ kiến chống bán phá giá Kiện chống bán phá giá thực chất là một quy trình Kiện - Điều tra - Kết luận - Áp dụng biện pháp chống bán phá giá (nếu có) mà nước nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hoá nhập khẩu từ một nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng loại hàng hoá đó bị bán phá giá vào nước nhập khẩu gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, đây là là một thủ tục hành chính và được đảm nhận bởi cơ quan hành chính của nước nhập khẩu. Thủ tục này nhằm giải quyết tranh chấp thương mại giữa một bên là ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu và một bên là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài. Do trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan được thực hiện tương tự như trình tự tố tụng xử lý một vụ kiện tại tòa án nên thủ tục này được xem như “thủ tục bán tư pháp”.
Ngoài ra, khi kết thúc vụ kiện, nếu không đồng ý với quyết định cuối cùng của cơ quan hành chính, các bên có thể kiện ra Tòa án. Những yếu tố cơ bản của một vụ kiện chống bán phá giá: - Đối tượng của vụ kiện là một loại hàng hoá nhất định nhập khẩu từ một hoặc một số nước xuất khẩu; - “Nguyên đơn” của vụ kiện là ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu sản xuất ra sản phẩm tương tự với sản phẩm bị cho là bán phá giá gây thiệt hại; - “Bị đơn” của vụ kiện là tất cả các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất và xuất khẩu loại hàng hoá/sản phẩm là đối tượng của đơn kiện; - Cơ quan xử lý vụ kiện là một hoặc một số cơ quan hành chính được nước nhập khẩu trao quyền điều tra chống bán phá giá và quyết định việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá Không phải cứ có hiện tượng hàng hóa nước ngoài bán phá giá là nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá đó. Theo quy định của WTO thì việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá chỉ có thể thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành 10 điều tra chống bán phá giá , ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 03 điều kiện sau: - Hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá (với biên độ phá giá không thấp hơn 2%); - Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe doạ thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố “thiệt hại”); - Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên; d.
Thuế chống bán phá giá Thuế chống bán phá giá là biện pháp chống bán phá giá được sử dụng phổ biến nhất, được áp dụng đối với sản phẩm bị điều tra và bị kết luận là bán phá giá vào nước nhập khẩu gây thiệt hại cho ngành sản xuất nước đó. Về bản chất, đây là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài nhập khẩu là đối tượng của quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Về thời hạn áp thuế, theo quy định của WTO, việc áp thuế chống bán phá giá không được kéo dài quá 5 năm kể từ ngày có Quyết định áp thuế hoặc kể từ ngày tiến hành rà soát lại. Chống trợ cấp a.
Khái niệm Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất: Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay); Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng); Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung); 11 Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động (I), (II), (III) nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm. Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường). Các hình thức trợ cấp Trong WTO, trợ cấp là hình thức được phép, nhưng là trong các giới hạn và điều kiện nhất định. Có 03 loại trợ cấp, với quy chế áp dụng khác nhau: Trợ cấp bị cấm (Trợ cấp đèn đỏ) là loại trợ cấp mà hiện tất cả các thành viên WTO đều bị cấm áp dụng.
Bao gồm: Trợ cấp xuất khẩu (trợ cấp căn cứ vào kết quả xuất khẩu, ví dụ thưởng xuất khẩu, trợ cấp nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn thuế/giảm thuế cao hơn mức mà sản phẩm tương tự bán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đãi tín dụng xuất khẩu…) Trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu Trợ cấp không bị khiếu kiện (Trợ cấp đèn xanh) là loại trợ cấp mà các nước thành viên có thể áp dụng các hình thức này mà không bị thành viên khác khiếu kiện (tức là loại trợ cấp được phép vô điều kiện). Bao gồm: Trợ cấp không cá biệt: Tức là các loại trợ cấp không hướng tới một (một nhóm) doanh nghiệp/ngành/ khu vực địa lý nào.