Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã bước vào giai đoạn thực thi sâu rộng với việc tham gia đàm phán và ký kết 17 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) song phương và đa phương, trong đó 15 FTA đã có hiệu lực. Việc mở cửa thị trường và dỡ bỏ các hàng rào thuế quan một mặt thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và thu hút đầu tư, mặt khác đặt các ngành sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa nhập khẩu giá thấp. Đồng thời, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ngày càng đối diện với nhiều cuộc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM) từ các thị trường quốc tế. Trong bối cảnh phần lớn doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về nhận thức, năng lực pháp lý và kinh nghiệm xử lý tranh chấp thương mại, việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp sử dụng công cụ PVTM trở thành yêu cầu cấp thiết.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là làm rõ tình hình sử dụng các biện pháp PVTM tại Việt Nam cũng như xu hướng áp dụng công cụ này trên phạm vi thế giới, từ đó đề xuất các giải pháp giúp doanh nghiệp và cơ quan quản lý Việt Nam sử dụng hiệu quả, đúng quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các FTA thế hệ mới đã cam kết. Để đạt được mục đích này, đề tài tập trung giải quyết 03 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Xu hướng sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại hiện nay của thế giới là gì?
  2. Thực trạng sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam trong bối cảnh thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như thế nào?
  3. Việt Nam cần làm gì để nâng cao chất lượng phòng vệ thương mại trong bối cảnh thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới?

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động phòng vệ thương mại trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại thị trường Việt Nam và các thị trường đối tác xuất nhập khẩu trọng điểm; phạm vi thời gian thu thập và phân tích dữ liệu trải dài từ năm 1995 đến tháng 6/2022, kết hợp cập nhật một số số liệu chuyên ngành đến hết năm 2022 và tháng 1/2023.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên khung pháp lý quốc tế của WTO và pháp luật thương mại Việt Nam:

  • Khung pháp lý quốc tế: Điều VI, Điều XIX và Điều XXIV (đoạn 8b) của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994); Hiệp định Chống bán phá giá (ADA); Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM); Hiệp định về Biện pháp Tự vệ của WTO.
  • Khung pháp lý trong nước: Điều 67 Luật Quản lý Ngoại thương của Việt Nam, quy định thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Công Thương trong việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (CBPG), chống trợ cấp (CTC) và tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu.
  • Quy định trong các FTA thế hệ mới: Các chương về PVTM trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP - Chương 6), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA - Chương 3), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Đề tài phân loại và làm rõ 03 công cụ PVTM trụ cột:

  • Chống bán phá giá (CBPG): Xử lý hành vi phân biệt giá (giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường tại nước xuất khẩu), yêu cầu đồng thời 03 điều kiện (biên độ phá giá không thấp hơn 2%, có thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa, có mối quan hệ nhân quả). Thời hạn áp thuế tối đa 5 năm.
  • Chống trợ cấp (CTC): Xử lý hàng hóa nhận hỗ trợ tài chính từ chính phủ nước xuất khẩu; phân loại trợ cấp thành 03 nhóm (Trợ cấp đèn đỏ - bị cấm, Trợ cấp đèn xanh - không bị khiếu kiện, Trợ cấp đèn vàng - có thể bị khiếu kiện); yêu cầu biên độ trợ cấp không thấp hơn 1%.
  • Biện pháp tự vệ: Biện pháp khẩn cấp (van an toàn) tạm thời hạn chế nhập khẩu khi hàng hóa gia tăng đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng, áp dụng chung cho mọi nguồn nhập khẩu mà không cần chứng minh hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng hệ phương pháp phân tích phi thực nghiệm trên nền dữ liệu thứ cấp:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Khai thác dữ liệu thứ cấp chính thức từ WTO, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Bộ Công Thương và Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA).
  • Phương pháp mô tả thống kê: Xử lý, tổng hợp các chuỗi số liệu theo thời gian, cơ cấu ngành hàng và đối tác thành các bảng số liệu, biểu đồ so sánh.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu: Đánh giá đa chiều thực trạng PVTM theo từng giai đoạn phát triển, từng thị trường đối tác và từng nhóm mặt hàng xuất nhập khẩu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về phòng vệ thương mại và Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm của PVTM và các FTA thế hệ mới, đồng thời tổng hợp xu hướng sử dụng PVTM trên thế giới từ khi thành lập WTO đến tháng 6/2022:

  • Quy mô toàn cầu: Toàn thế giới ghi nhận 7.622 vụ việc PVTM được khởi xướng điều tra, trong đó 5.017 vụ việc dẫn đến quyết định áp dụng biện pháp (tỷ lệ áp dụng đạt 65,82%).
  • Cơ cấu công cụ PVTM: Biện pháp CBPG chiếm ưu thế tuyệt đối cả về số vụ khởi xướng (6.541 vụ, chiếm 85,82%) và số vụ áp dụng (4.412 vụ, chiếm 87,94%). Biện pháp CTC chiếm 669 vụ khởi xướng (8,78%) và 397 vụ áp dụng (7,91%). Biện pháp tự vệ có số lượng thấp nhất với 412 vụ khởi xướng (5,41%) và 208 vụ áp dụng (4,15%).
  • Cơ cấu ngành hàng bị điều tra: Ngành kim loại cơ bản và các sản phẩm kim loại (ngành XV) đứng đầu với 32,29% tổng số vụ việc; tiếp đến là hóa chất và các ngành công nghiệp liên quan (ngành VI) chiếm 18,79%; nhựa và cao su (ngành VII) chiếm 12,53%.
  • Quốc gia điều tra và bị điều tra chủ yếu: Trung Quốc là đối tượng bị điều tra lớn nhất thế giới (chiếm 26,24% tổng số vụ điều tra CBPG và 39,63% tổng số vụ điều tra CTC giai đoạn 2019 - T6/2022). Ở chiều ngược lại, Ấn Độ dẫn đầu về khởi xướng điều tra CBPG (1.100 vụ tính đến hết năm 2021; 189 vụ giai đoạn 2019 - T6/2022) và tự vệ (47 vụ). Hoa Kỳ là quốc gia áp dụng nhiều biện pháp CBPG nhất (146 biện pháp giai đoạn 2019 - T6/2022) và sử dụng biện pháp CTC nhiều nhất thế giới (213 vụ khởi xướng, 149 vụ áp thuế).
Chỉ tiêu thống kê (1995 – T6/2022) Chống bán phá giá (CBPG) Chống trợ cấp (CTC) Biện pháp Tự vệ Tổng cộng
Số vụ khởi xướng điều tra 6.541 669 412 7.622
Tỷ trọng khởi xướng (%) 85,82% 8,78% 5,41% 100%
Số vụ áp dụng biện pháp 4.412 397 208 5.017
Tỷ trọng áp dụng (%) 87,94% 7,91% 4,15% 100%

Chương 2: Thực trạng phòng vệ thương mại trong bối cảnh thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam

Chương 2 phân tích các cam kết PVTM mới trong CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP và đánh giá thực trạng áp dụng PVTM hai chiều giữa Việt Nam và các đối tác thương mại:

  • Các điểm mới trong cam kết PVTM:
    • CPTPP: Bổ sung biện pháp tự vệ chuyển tiếp (áp dụng trong vòng 03 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực) và biện pháp khẩn cấp riêng đối với sản phẩm dệt may (thời hạn 05 năm).
    • EVFTA và UKVFTA: Bắt buộc áp dụng nguyên tắc mức thuế thấp hơn (lesser duty rule); đưa vào điều khoản xem xét lợi ích công cộng (public interest test); quy định tiếng Anh là ngôn ngữ điều tra chung; cho phép áp dụng biện pháp tự vệ song phương trong thời hạn 10 năm.
    • RCEP: Cấm áp dụng phương pháp "quy về 0" (zeroing) khi tính toán biên độ phá giá; cơ chế tự vệ chuyển tiếp linh hoạt tính từ thời điểm kết thúc lộ trình ưu đãi thuế quan của từng dòng thuế cụ thể; không áp dụng tự vệ chuyển tiếp đối với các nước thành viên kém phát triển nhất.
  • Nước ngoài điều tra PVTM đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam:
    • Tính đến tháng 01/2023, Việt Nam đối mặt với 228 vụ việc điều tra PVTM từ 24 thị trường. Xu hướng điều tra tăng nhanh qua các thời kỳ: giai đoạn 2005 - 2010 ghi nhận 25 vụ, giai đoạn 2011 - 2015 tăng lên 52 vụ, giai đoạn 2016 - 2021 lên tới 109 vụ và riêng năm 2022 ghi nhận 17 vụ việc mới.
    • Cơ cấu 228 vụ việc gồm: 126 vụ CBPG (chiếm 55,26%), 46 vụ tự vệ toàn cầu (20,18%), 33 vụ chống lẩn tránh biện pháp PVTM (14,47%) và 23 vụ CTC (10,09%).
    • Ngành hàng bị điều tra nhiều nhất: Thép (69 vụ việc giai đoạn 2004 - 2022, gồm 56% kiện CBPG, 19% tự vệ, 12% chống lẩn tránh, 9% CTC, 4% kiện đúp) và gỗ chế biến (tủ gỗ, bàn trang điểm, gỗ dán, đệm mút).
    • Thị trường điều tra nhiều nhất: Hoa Kỳ dẫn đầu với 53 vụ việc (chiếm 22,5%), tiếp theo là Ấn Độ (72 vụ việc giai đoạn 1995 - T6/2022; 30 vụ việc theo thống kê cơ quan quản lý), Thổ Nhĩ Kỳ (25 vụ), Canada (18 vụ), Úc (18 vụ), EU (14 vụ), Philippines (13 vụ).
  • Việt Nam điều tra PVTM đối với hàng hóa nhập khẩu:
    • Giai đoạn 2009 - 2022, Việt Nam khởi xướng 25 vụ việc điều tra PVTM, bao gồm: 16 vụ CBPG (chiếm 64%), 06 vụ tự vệ (chiếm 24%), 02 vụ chống lẩn tránh (chiếm 8%) và 01 vụ CTC (chiếm 4%).
    • Tỷ lệ áp dụng biện pháp tự vệ của Việt Nam (24%) cao hơn đáng kể so với mức trung bình thế giới (~4-5%). Nguyên nhân do biện pháp tự vệ có thủ tục thuận tiện hơn cho doanh nghiệp trong nước trong việc chứng minh thiệt hại và khối lượng nhập khẩu, không đòi hỏi chứng cứ phức tạp về chi phí sản xuất và giá bán tại nước xuất khẩu như các vụ kiện CBPG hay CTC.
Tiêu chí phân loại PVTM nước ngoài áp dụng với Việt Nam (đến 01/2023) PVTM Việt Nam áp dụng với hàng nhập khẩu (2009 - 2022)
Tổng số vụ việc điều tra 228 vụ việc 25 vụ việc
- Chống bán phá giá (CBPG) 126 vụ việc (55,26%) 16 vụ việc (64,00%)
- Biện pháp Tự vệ 46 vụ việc (20,18%) 06 vụ việc (24,00%)
- Chống lẩn tránh biện pháp PVTM 33 vụ việc (14,47%) 02 vụ việc (08,00%)
- Chống trợ cấp (CTC) 23 vụ việc (10,09%) 01 vụ việc (04,00%)
Thị trường / Ngành hàng trọng điểm Hoa Kỳ (53 vụ), Ấn Độ (72 vụ); Ngành thép (69 vụ), Gỗ chế biến Sản phẩm nhôm, thép, vật liệu hàn, đường mía, hóa chất

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng phòng vệ thương mại trong bối cảnh thực thi Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cho Việt Nam

Chương 3 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể cho giai đoạn 2023 - 2030:

  • Định hướng phát triển: Gắn kết việc thực thi PVTM với định hướng phát triển xuất nhập khẩu quốc gia đến năm 2030; nâng cao năng lực chủ động sử dụng và ứng phó với các biện pháp PVTM theo quy định của WTO và các FTA thế hệ mới.
  • Giải pháp đối với doanh nghiệp Việt Nam:
    • Nâng cao nhận thức về pháp luật PVTM, thường xuyên cập nhật hệ thống cảnh báo sớm từ cơ quan quản lý.
    • Chuẩn hóa hệ thống quản trị, kế toán và lưu trữ chứng từ theo chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp dữ liệu, giải trình số liệu kế toán chi phí khi bị nước ngoài điều tra.
    • Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu; hạn chế phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ các quốc gia đang bị áp thuế PVTM để phòng ngừa rủi ro bị điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM.
    • Tăng cường liên kết, trao đổi thông tin trong các hiệp hội ngành hàng để phối hợp xây dựng hồ sơ khởi kiện bảo vệ thị trường nội địa hoặc thống nhất phương án kháng kiện khi xuất khẩu.
  • Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội:
    • Chính phủ: Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật về PVTM; đầu tư nguồn lực phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu theo dõi dòng chảy thương mại và cảnh báo sớm nguy cơ kiện PVTM.
    • Bộ Công Thương: Tăng cường đào tạo chuyên môn về PVTM cho cán bộ điều tra và doanh nghiệp; hỗ trợ pháp lý cho các ngành sản xuất trong các vụ việc điều tra của nước ngoài; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Việt Nam thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và FTA.
    • Hiệp hội ngành hàng: Nâng cao vai trò đại diện và cầu nối thông tin; chủ động tập hợp số liệu, hỗ trợ doanh nghiệp thành viên chuẩn bị hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp PVTM khi ngành sản xuất trong nước bị đe dọa thiệt hại.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu thực trạng: Khóa luận đã lượng hóa toàn diện bức tranh PVTM toàn cầu (7.622 vụ việc giai đoạn 1995 - T6/2022) và thực tiễn tại Việt Nam (228 vụ việc hàng xuất khẩu bị điều tra tính đến tháng 01/2023; 25 vụ việc Việt Nam khởi xướng điều tra nhập khẩu giai đoạn 2009 - 2022).
  • Chỉ rõ đặc thù thực thi: Phân tích rõ nét sự khác biệt trong xu hướng sử dụng công cụ PVTM của Việt Nam (tỷ lệ áp dụng biện pháp tự vệ chiếm 24%, cao hơn nhiều mức 4,15% của thế giới) và xác định ngành thép (69 vụ việc), ngành gỗ là các lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất từ các vụ kiện phòng vệ quốc tế.
  • Đóng góp học thuật: Tác giả đã bổ khuyết khoảng trống nghiên cứu khi phân tích chi tiết các quy định pháp lý mới về PVTM trong các FTA thế hệ mới như CPTPP (tự vệ chuyển tiếp, biện pháp khẩn cấp dệt may), EVFTA/UKVFTA (nguyên tắc mức thuế thấp hơn, lợi ích công cộng, tự vệ song phương) và RCEP (cấm áp dụng zeroing, cơ chế tự vệ chuyển tiếp linh hoạt).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích mô tả trên nguồn dữ liệu thứ cấp được công bố đến tháng 6/2022 (và một số dữ liệu cập nhật đến đầu năm 2023); chưa thực hiện điều tra khảo sát định lượng sơ cấp trực tiếp tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cụ thể để đo lường mức độ thiệt hại tài chính chi tiết theo từng vụ kiện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu định lượng về tác động kinh tế lượng của từng phán quyết áp thuế PVTM cụ thể trong khuôn khổ CPTPP, EVFTA và RCEP đối với kim ngạch xuất khẩu của các ngành hàng chủ lực (thép, gỗ, thủy sản, dệt may) trong giai đoạn thực thi đầy đủ lộ trình giảm thuế sau năm 2023.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, giảng viên và học viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế và Luật thương mại quốc tế. Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:

  • Bảng so sánh và phân tích các cam kết PVTM mới trong CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP tại Chương 2.
  • Hệ thống số liệu thống kê chi tiết về các vụ việc điều tra CBPG, CTC, tự vệ của WTO và thực tiễn các vụ kiện phòng vệ đối với ngành thép, ngành gỗ Việt Nam.
  • Khung khuyến nghị hoàn thiện năng lực ứng phó PVTM cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Sự khác biệt cơ bản giữa 03 biện pháp phòng vệ thương mại (CBPG, CTC và Tự vệ) là gì?

Biện pháp CBPG áp dụng để đối phó với hành vi doanh nghiệp nước ngoài bán sản phẩm với giá thấp hơn giá trị thông thường gây thiệt hại cho sản xuất nội địa. Biện pháp CTC áp dụng để triệt tiêu lợi thế cạnh tranh không lành mạnh phát sinh từ các khoản trợ cấp tài chính của chính phủ nước xuất khẩu. Biện pháp tự vệ là công cụ khẩn cấp (van an toàn) tạm thời hạn chế nhập khẩu khi hàng hóa gia tăng đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng, áp dụng chung cho mọi nguồn nhập khẩu mà không xét đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

2. Hiệp định CPTPP có những quy định mới nào về biện pháp phòng vệ thương mại so với WTO?

Bên cạnh các biện pháp cơ bản theo khung khổ WTO, CPTPP bổ sung thêm 02 biện pháp mới: (1) Biện pháp tự vệ chuyển tiếp (quy định tại Điều 03 Chương 06), áp dụng khi việc cắt giảm thuế quan theo cam kết dẫn đến nhập khẩu tăng bất thường gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nội địa trong thời hạn 03 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực; (2) Biện pháp khẩn cấp đối với sản phẩm dệt may (quy định tại Điều 03 Chương 04) áp dụng riêng cho hàng dệt may trong thời gian chuyển tiếp 05 năm.

3. Quy tắc "mức thuế thấp hơn" (lesser duty rule) và điều khoản "lợi ích công cộng" trong EVFTA quy định như thế nào?

Trong EVFTA, nguyên tắc áp dụng mức thuế thấp hơn là nghĩa vụ bắt buộc: mức thuế CBPG hoặc CTC chỉ được ấn định ở mức vừa đủ để loại bỏ thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa, thay vì áp dụng ở mức tối đa bằng toàn bộ biên độ phá giá/trợ cấp như thông lệ khuyến nghị của WTO. Ngoài ra, ngay cả khi thỏa mãn đủ 03 điều kiện áp dụng biện pháp, cơ quan điều tra vẫn không áp thuế nếu việc áp dụng không phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội (lợi ích công cộng).

4. Đến hết năm 2022, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam đã đối mặt với bao nhiêu vụ việc điều tra PVTM và thị trường nào điều tra nhiều nhất?

Tính đến hết tháng 01/2023, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã đối mặt với 228 vụ việc điều tra PVTM từ 24 thị trường (gồm 126 vụ CBPG, 46 vụ tự vệ, 33 vụ chống lẩn tránh và 23 vụ CTC). Hoa Kỳ là quốc gia khởi xướng điều tra PVTM nhiều nhất đối với Việt Nam với 53 vụ việc (chiếm 22,5%), tiếp đến là Ấn Độ (72 vụ việc giai đoạn 1995 - T6/2022) và Thổ Nhĩ Kỳ (25 vụ việc).

5. Vì sao tỷ lệ sử dụng biện pháp tự vệ của Việt Nam (24%) lại cao hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình của thế giới (~4-5%)?

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp và cơ quan điều tra ban đầu còn thiếu kinh nghiệm và nguồn lực để thu thập chứng cứ chứng minh hành vi bán phá giá hay chính sách trợ cấp phức tạp của nước ngoài. Kiện áp dụng biện pháp tự vệ có ưu điểm là dễ thực hiện hơn đối với nguyên đơn do chỉ cần chứng minh sự gia tăng đột biến của lượng hàng nhập khẩu và mối quan hệ nhân quả đối với thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Phùng Thị Kim Chi đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, khung pháp lý và thực tiễn sử dụng công cụ phòng vệ thương mại tại Việt Nam trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP). Thông qua việc phân tích chuỗi số liệu thứ cấp từ WTO và các cơ quan quản lý chuyên ngành giai đoạn 1995 - 2022, công trình đã làm rõ xu hướng điều tra PVTM gia tăng đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như sắt thép và gỗ, đồng thời chỉ ra tính chất đặc thù trong hoạt động khởi xướng PVTM nội địa. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng có tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở tham khảo giá trị cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng và cơ quan hoạch định chính sách thương mại quốc tế.