Tổng quan nghiên cứu

Ngành chế biến dừa tỉnh Bến Tre giữ vai trò then chốt trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp tới 38% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh với giá trị sản xuất công nghiệp đạt 947 tỷ đồng vào năm 2008. Tỉnh Bến Tre sở hữu diện tích dừa lên đến 49.007 ha vào năm 2009, chiếm trên 30% diện tích đất nông nghiệp địa phương và cung cấp sản lượng hơn 360 triệu trái mỗi năm. Tuy nhiên, phần lớn các đơn vị sản xuất trên địa bàn gồm 70 doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ cùng hơn 1.000 cơ sở cá thể đang đối mặt với bài toán suy giảm năng lực cạnh tranh do công nghệ lạc hậu, tỷ lệ khai thác công suất chế biến chỉ dao động trong khoảng từ 24,45% đến 84,52%.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để kích hoạt làn sóng đổi mới công nghệ trong điều kiện nguồn lực tự thân của doanh nghiệp còn hạn hẹp. Luận văn tập trung giải quyết mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của công cụ tài chính nhà nước, phân tích toàn diện thực trạng đổi mới công nghệ và đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ tài chính công tại Bến Tre. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thực chứng từ năm 2001 đến năm 2009 tại 50 doanh nghiệp chế biến dừa đại diện trên địa bàn tỉnh. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc lượng hóa trình độ công nghệ qua điểm số THIO đạt mức trung bình 51,39 điểm, từ đó cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc giúp chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế phân bổ vốn ngân sách, mở rộng tín dụng ưu đãi và vận dụng chính sách thuế để gia tăng tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ thành công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết thất bại thị trường (Market Failure) của Feldman và cộng sự (2002) cùng lập luận của Link (1996). Theo các tác giả này, hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) luôn tiềm ẩn rủi ro kỹ thuật cao và tính lan tỏa tri thức rộng lớn, dẫn đến hiện tượng khu vực tư nhân thường đầu tư dưới ngưỡng tối ưu mà xã hội kỳ vọng. Do đó, sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ tài chính mang tính châm ngòi là điều kiện tiên quyết để bù đắp các khiếm khuyết thị trường.

Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết đổi mới công nghệ của Freeman (1982), Porter (1990) và tài liệu hướng dẫn Oslo Manual (1996) của OECD để phân định ranh giới giữa đổi mới quy trình và đổi mới sản phẩm. Đánh giá hiện trạng công nghệ được triển khai dựa trên mô hình cấu phần công nghệ THIO do Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) ban hành và được nhà khoa học Vũ Cao Đàm hoàn thiện. Mô hình bao gồm 4 cấu phần tương hỗ: Thành phần kỹ thuật thiết bị (Technoware), thành phần con người (Humanware), thành phần thông tin (Infoware) và thành phần tổ chức quản lý (Orgaware).

Khung nghiên cứu gắn liền với 5 khái niệm cốt lõi: Công nghệ, Đổi mới công nghệ, Vốn ngân sách sự nghiệp khoa học công nghệ, Tín dụng ưu đãi đầu tư phát triển và Chính sách ưu đãi thuế doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa chiều từ sơ cấp đến thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp thu thập qua các niên giám thống kê, báo cáo của Tổng cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công Thương Bến Tre trong giai đoạn 2001 - 2009. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ cuộc khảo sát thực tế trong giai đoạn tháng 03/2010 đến tháng 06/2010.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 50 doanh nghiệp chế biến dừa trên địa bàn tỉnh Bến Tre, kết hợp phỏng vấn sâu trực tiếp đại diện lãnh đạo của 5 cơ quan quản lý và thực thi chính sách gồm Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, Cục Thuế và Sở Khoa học và Công nghệ. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phân tầng theo quy mô doanh thu kết hợp chọn mẫu thuận tiện. Trong đó, nhóm doanh nghiệp có doanh thu trên 60 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 18% (9 doanh nghiệp), nhóm doanh thu từ 10 đến 60 tỷ đồng chiếm 20% (10 doanh nghiệp) và nhóm doanh thu dưới 10 tỷ đồng chiếm 62% (31 doanh nghiệp), phản ánh sát thực cơ cấu phân bổ của toàn ngành.

Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng bảng tính xử lý dữ liệu và thống kê mô tả nhằm tính toán điểm số 22 tiêu chí định lượng thuộc 4 thành phần THIO. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm chuẩn hóa và lượng hóa chính xác mức độ công nghệ của từng nhóm doanh nghiệp, tạo cơ sở so sánh đối chiếu định lượng sự chuyển biến công nghệ giữa hai mốc thời gian năm 2007 và năm 2009 dưới tác động của các chính sách tài chính công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất, trình độ công nghệ tổng hợp của các doanh nghiệp chế biến dừa Bến Tre năm 2009 chỉ đạt mức trung bình với 51,39 điểm, dù đã có mức cải thiện nhẹ 3,65% so với mức 49,58 điểm của năm 2007. Trong 4 thành phần công nghệ, thành phần nhân lực đạt điểm cao nhất với 59,36 điểm (tăng 3,18%), thành phần thiết bị đạt 52,65 điểm (tăng 7,19%), thành phần thông tin đạt 51,80 điểm (tăng 1,91%), trong khi thành phần tổ chức ở mức yếu kém nhất khi chỉ đạt 41,74 điểm.

Phát hiện thứ hai, năng lực thiết bị máy móc bộc lộ sự phân hóa sâu sắc khi có tới 46% doanh nghiệp xếp loại thiết bị yếu kém, 46% đạt mức trung bình và chỉ duy nhất 10% doanh nghiệp đạt mức khá. Dù tiêu chí tuổi thọ thiết bị đạt 68,46 điểm và khả năng vận hành đạt 70,71 điểm, nhưng mức độ tự động hóa của dây chuyền sản xuất chỉ dừng ở mức 31,88 điểm và tiêu chí xuất xứ thiết bị đạt mức rất thấp là 26,17 điểm do đa phần doanh nghiệp mua lại máy móc cũ đã qua sử dụng.

Phát hiện thứ ba, cơ cấu nguồn vốn phục vụ đổi mới công nghệ phụ thuộc gần như tuyệt đối vào nội lực doanh nghiệp với tỷ trọng vốn tự có lên tới 94,20%, trong khi tỷ trọng tài trợ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước chỉ chiếm khiêm tốn 1,90%. Nguồn vốn từ nước ngoài chiếm 0,24% và các nguồn huy động khác chiếm 3,66%. Vốn sản xuất kinh doanh bình quân của một doanh nghiệp chế biến dừa năm 2009 đạt 38 tỷ đồng với quy mô lao động trung bình 118 người, song tỷ lệ vốn dành cho hoạt động nghiên cứu cải tiến kỹ thuật chưa vượt quá 1% doanh thu.

Phát hiện thứ tư, hiệu suất khai thác công suất chế biến nguyên liệu dừa còn rất thấp và biến động mạnh giữa các phân ngành sản xuất. Ngành chế biến chỉ xơ dừa ghi nhận công suất vận hành cao nhất đạt 84,52%, trong khi phân ngành sản xuất thạch dừa chỉ vận hành đạt 24,45% công suất thiết kế, gây lãng phí chi phí cố định và đẩy giá thành sản phẩm lên cao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng chậm đổi mới công nghệ bắt nguồn từ quy mô vốn hạn hẹp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khiến họ gặp rào cản lớn khi tìm kiếm tài sản thế chấp để tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng thương mại. Mặc dù Nhà nước đã ban hành các cơ chế tài chính như Nghị định 119/1999/NĐ-CP hỗ trợ doanh nghiệp trích kinh phí cho hoạt động khoa học, thủ tục thanh quyết toán phức tạp và cơ chế xét duyệt kéo dài đã làm giảm động lực tiếp cận của khu vực tư nhân. Thêm vào đó, nhận thức của chủ doanh nghiệp về quản trị công nghệ còn hạn chế, thể hiện qua điểm số phổ biến thông tin nội bộ chỉ đạt 28,13 điểm và năng lực xử lý chất thải môi trường chỉ đạt 22,19 điểm.

Khi so sánh với bức tranh chung của cả nước theo số liệu điều tra 7.580 doanh nghiệp công nghiệp của Tổng cục Thống kê năm 2005 (chỉ có 2,44% doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ với kinh phí bằng 0,003% doanh thu), tình trạng tại Bến Tre phản ánh rõ nét rào cản chung của nền kinh tế đang chuyển đổi. Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tới 90% tổng vốn đổi mới công nghệ toàn quốc, trong khi các doanh nghiệp tư nhân trong nước chỉ chiếm khoảng 1,40%.

Để làm nổi bật các biến động này, dữ liệu thực trạng có thể được minh họa trực quan thông qua Biểu đồ cột nhóm so sánh điểm số 4 thành phần THIO giữa năm 2007 và năm 2009. Cùng với đó, một Biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn vốn đầu tư công nghệ (Vốn tự có 94,20%, Ngân sách 1,90%, Nguồn khác 3,90%) kết hợp Bảng tổng hợp năng lực thiết bị máy móc sẽ giúp người đọc hình dung rõ nét sự thiếu hụt tài chính công tác động đến trình độ hiện đại hóa sản xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường tái cơ cấu nguồn vốn ngân sách nhà nước chi cho hoạt động khoa học và công nghệ. Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cùng Sở Khoa học và Công nghệ cần nâng mức hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách địa phương lên mức 30% đến 50% tổng dự toán cho các dự án chuyển giao công nghệ mới trong giai đoạn 2011 - 2015. Mục tiêu cụ thể là giải ngân trên 85% nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ hàng năm đúng đối tượng doanh nghiệp chế biến dừa mũi nhọn.

Thứ hai, mở rộng cơ chế tín dụng ưu đãi từ Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bến Tre và các ngân hàng thương mại nhà nước. Bắt đầu từ quý 1 năm 2011, các tổ chức tín dụng cần triển khai gói vay trung và dài hạn hỗ trợ lãi suất thấp hơn từ 2% đến 3% so với lãi suất thị trường, đồng thời thí điểm cơ chế thế chấp bằng chính dây chuyền thiết bị hình thành từ vốn vay. Target metric đặt ra là tăng trưởng dư nợ tín dụng tài trợ đổi mới công nghệ của ngành dừa đạt tối thiểu 20%/năm.

Thứ ba, hoàn thiện các công cụ ưu đãi thuế và khấu hao tài sản cố định nhanh. Cục Thuế tỉnh Bến Tre cần hướng dẫn 100% doanh nghiệp chế biến dừa thực hiện trích lập tối đa 10% thu nhập tính thuế trước khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp để thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại chỗ theo Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp. Đồng thời, cho phép áp dụng tỷ lệ khấu hao nhanh từ 50% đến 90% trong 2 năm đầu đối với máy móc chế biến sâu, miễn thuế nhập khẩu cho các dây chuyền tạo sản phẩm giá trị gia tăng cao.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết ba nhà giữa Doanh nghiệp, Viện nghiên cứu - Trường Đại học và Cơ quan quản lý. Trong mốc thời gian 2011 - 2013, Hiệp hội Dừa Bến Tre phối hợp với các trường đại học triển khai các khóa đào tạo kỹ thuật chuyên sâu, phấn đấu nâng điểm số tiêu chí đào tạo nhân lực từ 28,07 điểm lên trên 60 điểm và thúc đẩy ít nhất 50% doanh nghiệp đạt chứng chỉ quản lý chất lượng quốc tế ISO và HACCP.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý công tại Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hiệu lực của từng sắc thuế và kênh cấp vốn, giúp xây dựng các chương trình khuyến công và hỗ trợ kỹ thuật sát với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Nhóm thứ hai là các chủ doanh nghiệp, giám đốc sản xuất và nhà quản lý trong ngành chế biến dừa cũng như các ngành chế biến nông sản thực phẩm. Tài liệu này giúp nhận diện đầy đủ các điểm nghẽn trong 4 cấu phần THIO của đơn vị, từ đó lập kế hoạch đầu tư máy móc đồng bộ và tiếp cận thuận lợi các gói hỗ trợ tài chính từ Nhà nước.

Nhóm thứ ba là các chuyên gia nghiên cứu kinh tế, các viện nghiên cứu chính sách công nghệ. Công trình đóng vai trò là một tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận ứng dụng mô hình ESCAP kết hợp phân tích kinh tế vĩ mô để đánh giá chính sách công nghệ cấp địa phương.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Phát triển. Đây là một nghiên cứu tình huống điển hình (case study) về việc giải quyết bài toán đổi mới công nghệ trong các cụm ngành công nghiệp địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chế biến dừa Bến Tre tại sao cần sự hỗ trợ tài chính từ Nhà nước? Doanh nghiệp dừa đa phần có quy mô vừa và nhỏ với vốn tự có bình quân chỉ 38 tỷ đồng, trong khi các dự án R&D đòi hỏi chi phí lớn và chịu nhiều rủi ro thị trường. Sự can thiệp tài chính của Nhà nước đóng vai trò châm ngòi, giảm thiểu rủi ro đầu tư và giải quyết khiếm khuyết thị trường.

Mô hình THIO áp dụng trong luận văn gồm những thành phần nào và kết quả ra sao? Mô hình THIO bao gồm 4 thành phần: Thiết bị (Technoware), Nhân lực (Humanware), Thông tin (Infoware) và Tổ chức (Orgaware). Kết quả khảo sát năm 2009 cho thấy điểm số tổng hợp của ngành dừa Bến Tre đạt 51,39 điểm ở mức trung bình, trong đó thành phần tổ chức đạt điểm thấp nhất với 41,74 điểm.

Rào cản lớn nhất của doanh nghiệp chế biến dừa khi tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng là gì? Rào cản lớn nhất là yêu cầu về tài sản bảo đảm khi doanh nghiệp không đủ bất động sản thế chấp, trong khi các ngân hàng thương mại chưa chấp nhận rộng rãi việc thế chấp bằng máy móc công nghệ mới hình thành từ vốn vay, cộng với lãi suất vay thương mại còn ở mức cao.

Kinh nghiệm tài chính công nghệ từ Hàn Quốc có thể áp dụng điều gì cho Bến Tre? Bến Tre có thể học tập Hàn Quốc ở mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ chế tài trợ gián tiếp lên tới 75% chi phí R&D, và việc bắt buộc các viện nghiên cứu công lập dành tỷ lệ ngân sách nhất định để hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp dừa cần làm gì để được hưởng ưu đãi thuế khi đầu tư máy móc mới? Doanh nghiệp cần chủ động lập dự án đổi mới công nghệ, tiến hành trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ nội bộ theo mức tối đa 10% thu nhập tính thuế, đồng thời làm thủ tục xin xác nhận dây chuyền công nghệ nhập khẩu thuộc danh mục ưu đãi để được miễn thuế nhập khẩu và khấu hao nhanh.

Kết luận

Luận văn đã mang lại những đóng góp học thuật và thực tiễn quan trọng sau:

  • Hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về tác động của các công cụ tài chính công gồm vốn ngân sách, vốn tín dụng và chính sách thuế trong việc khắc phục thất bại thị trường đối với hoạt động đổi mới công nghệ.
  • Đánh giá thực chứng và lượng hóa toàn diện trình độ công nghệ của 50 doanh nghiệp chế biến dừa Bến Tre với điểm số trung bình THIO đạt 51,39 điểm.
  • Chỉ rõ thực trạng thiếu hụt tài chính công nghệ khi nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào vốn tự có (94,20%), trong khi vốn hỗ trợ từ ngân sách chỉ chiếm 1,90%.
  • Tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế phong phú từ Hàn Quốc, Trung Quốc và Vương quốc Anh trong việc thiết kế các gói tài trợ R&D và tín dụng thuế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp tài chính đồng bộ kèm lộ trình cụ thể từ năm 2011 đến năm 2015 nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành dừa.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền tỉnh Bến Tre và các sở ngành nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp tín dụng ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục ngân sách KH&CN và đẩy mạnh trích lập quỹ đổi mới tại doanh nghiệp. Các nhà quản lý và hiệp hội ngành hàng cần sớm liên kết hành động để đưa ngành chế biến dừa Bến Tre hội nhập vững chắc vào chuỗi giá trị toàn cầu.