phần mở đầu, kế luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dự toán ngân sách nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng lập dự toán ngân sách nhà nƣớc ở tỉnh Nam Định Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo tính khoa học trong lập dự toán ngân sách nhà nƣớc ở tỉnh Nam Định. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Ngân sách nhà nƣớc và lập dự toán ngân sách nhà nƣớc 1.
Ngân sách nhà nước và vai trò của ngân sách. Quan niệm ngân sách nhà nước Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH 11 ngày 16/12/2002 quy định: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Nội dung cơ bản của ngân sách nhà nước là: - Ngân sách nhà nước hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính vì vậy nó thể hiện các mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước và xã hội. - Quyền lực về ngân sách nhà nước thuộc về Nhà nước.
Mọi khoản thu, chi tài chính của nhà nước đều do nhà nước quyết định, nhằm mục đích phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Bản chất của ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước, do đó hoạt động của ngân sách nhà nước là động viên các nguồn lực tài chính vào tay nhà nước (những khoản đóng góp theo nghĩa vụ hoặc tự nguyện của mỗi thành viên trong xã hội cho nhà nước), là các khoản cấp phát của nhà nước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư tích luỹ, đó cũng là những khoản chi phí mà nhà nước cấp cho các thành viên. Như vậy, hoạt động của ngân sách nhà nước không hề mang tính tự cấp tự phát hoặc nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước. Mọi khoản thu, chi của ngân sách nhà nước đều được tính toán, dự định có chủ định nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế xã hội.
Các khoản thu được chế định bằng các luật, pháp lệnh, các khoản chi đều được phân bổ theo các quy định theo các văn bản quy 6 phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Như vậy, ta có thể hiểu khái quát về bản chất ngân sách nhà nước như sau: Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước và các chủ thể khác trong phân phối tổng sản phẩm quốc dân, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền ở các chủ thể kinh tế khác thành thu nhập của nhà nước và phân phối chuyển dịch nguồn thu nhập đó đến các đối tượng sử dụng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân. Cụ thể là ngân sách cấp tỉnh; ngân sách cấp huyện (huyện, thành phố); ngân sách cấp xã (xã, phường, thị trấn). Nội dung của ngân sách nhà nước. Nội dung ngân sách nhà nước bao gồm: thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước.
Thứ nhất: Nội dung thu ngân sách nhà nước. Thu ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau: - Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; - Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản 7 phí, lệ phí; - Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước theo quy định của pháp luật, gồm: Tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay của nhà nước (cả gốc và lãi); thu nhập từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của nhà nước theo quy định của Chính phủ; - Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các hoạt động sự nghiệp; - Tiền sử dụng đất, thu từ hoa lợi công sản và đất công ích; - Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; - Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; - Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; - Thu từ huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Luật ngân sách nhà nước; - Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước; - Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam, các tổ chức nhà nước thuộc địa phương theo quy định; - Thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định; - Thu kết dư ngân sách theo quy định; - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm: Các khoản di sản nhà nước đang hưởng; phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phạt, tịch thu; thu hồi dự trữ nhà nước; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên; thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước chuyển sang.
8 Thứ hai:Nội dung chi ngân sách nhà nước. Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ. Xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước trong việc phát triển kinh tế - xã hội, nội dung chi ngân sách rất đa dạng. Theo quy định của Luật ngân sách thì chi ngân sách nhà nước bào gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Chi ngân sách nhà nước gồm: - Chi đầu tư phát triển về: Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, góp vốn liên doanh; chi bổ sung dự trữ nhà nước; chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; các khoản chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật; - Chi thường xuyên về: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; các hoạt động sự nghiệp kinh tế; hoạt động của cơ quan nhà nước; hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam; hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội; trợ giá theo chính sách của nhà nước.; - Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay; - Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước; - Chi cho vay của ngân sách trưng ương; - Chi trả nợ gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định của Luật ngân sách nhà nước; - Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính theo quy định; 9 - Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; - Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau. Vai trò của ngân sách nhà nước. Xuất phát từ bản chất và chức năng của ngân sách nhà nước và trên cơ sở các nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn thì vai trò quản lý kinh tế xã hội của ngân sách nhà nước cũng được thay đổi theo để ngân sách nhà nước thực sự là công cụ quan trọng của chính sách tài chính tiền tệ của quốc gia. Trước hết, ngân sách nhà nước thể hiện tiềm lực kinh tế của một quốc gia.
Nó huy động nguồn tài chính để bảo đảm các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đồng thời ngân sách nhà nước thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chi. Đây là vai trò lịch sử của ngân sách nhà nước mà trong cơ chế nào, trong thời đại nào NSNN cũng phải thực hiện. Xuất phát từ điều kiện cụ thể nhất là trong giai đoạn hiện nay ngân sách nhà nước có vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của Nhà nước.
Bởi lẽ cơ chế thị trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước. Song Nhà nước cũng chỉ có thể thực hiện điều chỉnh thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo tức là khi sử dụng triệt để và có hiệu quả công cụ ngân sách. Về mặt kinh tế: Thông qua ngân sách nhà nước để định hướng cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh chống độc quyền, đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt tạo môi trường thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các thành phần kinh tế. Thông qua chính sách thuế để thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá nào đó.
Về mặt xã hội: Thông qua chính sách thuế để điều tiết và giải quyết các vấn đề xã hội. Đồng thời qua sử dụng ngân sách nhà nước tăng cường đầu tư cho giáo dục, văn hoá, y tế hay giải quyết sự chênh lệch giữa các vùng các khu vực. 10 Về mặt thị trường ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về ổn định giá cả thị trường và chống lạm phát.