Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan phục vụ tổ chức không gian sản xuất nông, lâm nghiệp Chương 2: Đặc điểm cảnh quan tỉnh Hòa Bình Chương 3: Định hướng tổ chức không gian sản xuất nông, lâm nghiệp tỉnh Hòa Bình theo hướng bền vững 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan 1. Các công trình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới và Việt Nam Cảnh quan học từ khi ra đời đến nay đã có nhiều đóng góp vào mục đích ứng dụng thực tiễn và ngày càng hoàn thiện lý thuyết, phương pháp luận trong điều kiện mới, khi mà mục đích tối ưu hóa lãnh thổ ngày càng trở nên cấp thiết trong khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Một số hướng nghiên cứu cảnh quan có thể kể đến là: *) Hướng nghiên cứu lý luận cảnh quan: Trong các nghiên cứu về lý luận cảnh quan, định nghĩa cảnh quan lần đầu tiên được đưa ra bởi L.
Bergơ (1913) trên cơ sở tiền đề là học thuyết của V. Dokutsaev về địa tổng thể và các đới thiên nhiên. Trong công trình “Các đới cảnh quan địa lí Xô Viết” tập 1, Bergơ cho rằng: “Cảnh quan địa lý là một tập hợp hay một nhóm các sự vật, các hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, lớp phủ thực vật và giới động vật, cũng như hoạt động của con người hòa trộn với nhau vào một thể thống nhất hòa hợp, lặp lại một cách điển hình trên một đới nhất định nào đó của Trái đất”. Theo quan điểm này, ông cho rằng các đới tự nhiên chính là các đới cảnh quan, bao gồm nhiều vùng tự nhiên hay còn gọi là các cảnh quan địa lý và trong mỗi cảnh quan có thể thấy mối quan hệ hài hòa giữa các dạng địa hình, khí hậu, nước, đất và các quần hợp sinh vật [dẫn theo 10].
Xolsev đã phát triển trên cơ sở quan niệm của L. Bergơ để đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý được gọi là một lãnh thổ đồng nhất về mặt phát sinh, trong đó có sự lặp lại một cách điển hình và có quy luật của một và chỉ một tập hợp liên kết tương hỗ gồm: cấu trúc địa chất, dạng địa hình, nước mặt và nước ngầm, vi khí hậu, các biến chứng đất, các quần xã thực - động vật”. Đây là giai đoạn khoa học về cảnh quan đã xác định rõ nhiệm vụ và thực sự phát triển rộng rãi, hoàn thiện dần về cả lý thuyết, phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu [dẫn theo 25]. Ixatsenko đã đưa ra những cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng địa lí tự nhiên, ông cho rằng cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt phát sinh của một phần cảnh quan, một đới cảnh quan hay nói chung của một đơn 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trưng bằng sự thống nhất cả tương quan địa đới lẫn phi địa đới, có một cấu trúc riêng và một cấu tạo hình thái riêng [46].
Các nghiên cứu về lý luận, lý thuyết cảnh quan ở các nước Tây Âu và Băc Mỹ xuất hiện muộn hơn so với Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu. Năm 1905, nhà địa lý người Anh A. Ghebecxơn cho rằng nhiệm vụ của Địa lý học là phân chia và hệ thống hoá những thể tổng hợp và đưa ra các kiểu khu vực thiên nhiên cơ bản của đất liền bằng cách xem xét những sự khác biệt chung nhất về địa hình, khí hậu và thực vật. Nhà lý luận cảnh quan người Đức Z.
Passarge (1866-1958) đã có những công trình nghiên cứu về các đới cảnh quan trên Trái Đất. Sau đó các nhà địa lý người Đức cũng đã tiến hành thành lập bản đồ cảnh quan và chủ yếu dựa trên nghiên cứu cấu tạo hình thái cảnh quan, lấy các đơn vị sinh cảnh để phân chia cảnh quan. Ở Việt Nam, Vũ Tự Lập (1976) đã đưa ra khái niệm cảnh quan: “Cảnh quan địa lí là một tổng hợp thể lãnh thổ, được phân hoá ra trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”. Trong đó, tác giả đã xây dựng được một hệ thống phân vị riêng, khá đầy đủ, bao gồm 16 cấp và xây dựng bản đồ cảnh quan miền Bắc Việt Nam theo quan điểm cảnh quan cá thể và đề cao quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu các đơn vị địa lí tự nhiên, phục vụ thực tiễn sản xuất.
Đây là công trình có ý nghĩa giá trị về mặt lý luận và đặt nền móng cho nghiên cứu cảnh quan ở nước ta sau này [49]. *) Hướng nghiên cứu cấu trúc, chức năng cảnh quan: Hướng nghiên cứu cấu trúc, chức năng cảnh quan đầu tiên phải kể R. Việc phân tích, đánh gia chức năng cảnh quan cho các định hướng sử dụng hợp lý đất đai được rất nhiều tác giả quan tâm như Matthias Röder và Ralf-Uwe (2000) [114]; J.D Groot (2005) [111]; 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kienast cho rằng để điều chỉnh sự phát triển cảnh quan cần dựa vào những đặc trưng về chức năng không gian của cảnh quan, từ đó để xuất định hướng sử dụng cảnh quan cho các mục đích thực tiễn [102].
Những kết quả nghiên cứu cấu trúc, chức năng cảnh quan gần đây được trình bày trong Hội nghị khoa học cảnh quan quốc tế lần thứ XI (2007) tại Matxcơva với chủ để “Phân tích cảnh quan cho phát triển bền vững: lý thuyết và các ứng dụng của khoa học cảnh quan ở nước Nga”. Trong đó các nhà cảnh quan nổi tiếng như A. Bastian,… đã có nhiều nghiên cứu về xu hướng ứng dụng công nghệ để đánh giá định lượng cấu trúc hình thái cảnh quan [113]. Các nghiên cứu định lượng về chỉ số cấu trúc hình thái cảnh quan đã được nhiều tác giả quan tâm như S.
Angela và nnk (2015) [101] trên cơ sở các ứng dụng của công nghệ viễn thám và GIS. Trong đó, đáng chú ý nhất phải kể đến các nghiên cứu của R. Dusek và nnk (2017); G. Eiden và nnk (2000); B.
Ở Việt Nam, Phạm Quang Anh (1996) đã bắt đầu nghiên cứu cấu trúc sinh thái cảnh quan cho định hướng tổ chức du lịch xanh [1]. Sau đó, Nguyễn An Thịnh (2006) tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu này để áp dụng cho huyện Sa Pa [76]. Phạm Hoàng Hải (2006) áp dụng phương pháp luận về đa dạng cảnh quan để nghiên cứu cho toàn lãnh thổ Việt Nam. Công trình đã đưa ra quy trình, các bước tiến hành và một số kết quả nghiên cứu bước đầu, là tiền đề để tiến hành các nghiên cứu sâu hơn, nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn [28].
Trong một nghiên cứu khác, ông đã tiến hành phân tích chức năng, động lực phát triển cảnh quan sinh thái cho Việt Nam [21]. *) Hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan: Thuật ngữ “sinh thái cảnh quan” (landscape ecology) được nhà địa lý sinh vật người Đức Carl Troll lần đầu tiên đưa ra vào năm 1939. Ông cho rằng sinh thái cảnh quan là một hướng tiếp cận tổng hợp và liên ngành khi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên phức tạp [dẫn theo 116]. Đến những năm 1980, sinh thái cảnh quan mới phát 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển như một khoa học thực sự và được đánh dấu bởi sự ra đời của Hiệp hội Sinh thái cảnh quan quốc tế (IALE - The International Assosiation of Landscape Ecology).
Từ việc nghiên cứu các đặc trưng quan trọng của sinh thái cảnh quan là cấu trúc và chức năng (Forman và Godron năm 1986) [109], đến nghiên cứu xây dựng các cách phân loại chức năng cảnh quan (R.D Groot năm 1992) [110], xây dựng bản đồ các vùng sinh thái ở các nước Hà Lan, Hoa Kỳ, Mêxicô, Canađa,… đến nay sinh thái học cảnh quan đi sâu vào nghiên cứu đánh giá cảnh quan, tìm ra các mối liên hệ trong cấu trúc và chức năng cảnh quan, phân tích tính đa dạng và đánh giá giá trị sử dụng của các đơn vị cảnh quan (C. Burghard năm 2008), gắn liền với các ứng dụng thực tiễn như tối ưu hóa lãnh thổ [104]. Từ những năm 1990 trở lại đây: Nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng của sinh thái cảnh quan tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo xu hướng ứng dụng cảnh quan và bảo vệ môi trường dựa trên công nghệ nghiên cứu tiên tiến và hiện đại như Viễn thám, GIS, các mô hình không gian để thành lập bản đồ cảnh quan, bản đồ cứu đánh giá cảnh quan. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng trong phân tích, cứu đánh giá cảnh quan mang lại các kết quả chính xác về các dữ liệu đất, các yếu tố khí hậu, thảm thực vật và có giá trị thực tiễn lớn.
Ở Việt Nam, số lượng công trình nghiên cứu về sinh thái cảnh quan mặc dù không nhiều nhưng nội dung tương đối đa dạng, đề cập cả lý luận và thực tiễn. Sự phát triển của cảnh quan học và sinh thái học cảnh quan ở Việt Nam được tổng kết trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Vinh, Huỳnh Nhung (1995) [99]. Đáng chú ý nhất phải kể đến Phạm Quang Anh (1996) đã công bố sơ đồ cấu trúc sinh thái cảnh quan, trong đó mô hình hệ kinh tế sinh thái với ba phân hệ tự nhiên - xã hội - sản xuất lấy đơn vị cảnh quan làm cơ sở, áp dụng cho định hướng tổ chức du lịch xanh và hoạch định các vùng chuyên canh cây cà phê ở Việt Nam [1]. Lý thuyết về sinh thái cảnh quan đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và áp dụng để thành lập bản đồ cảnh quan sinh thái và phân vùng địa lý sinh thái Việt Nam như Nguyễn Thế Thôn (2000) [81], Nguyễn Trần Cầu (1992) [10] và Phạm Hoàng Hải và nnk (1992) [22], hoặc ứng dụng để xây dựng các mô hình sinh thái cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam của Trương Quang Hải và nnk (2008) [32].
Gần đây, Nguyễn An Thịnh (2006, 2013) đã tích hợp hướng sinh thái cảnh quan định lượng để phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan và thành lập bản đồ sinh thái cảnh quan huyện Sa Pa ở 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tỷ lệ lớn 1:50.