mở đầu thời ký quy hoạch phát triển nông nghiệp trên cơ sở QHSDĐ theo địa lý với vùng sản xuất là nền tảng của quy hoạch vùng cho sản xuất nông lâm nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Tại Châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 của thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiền về phân loại đất đai với tên “ Phân loại đất đai cho QHSDĐ”. Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho QHSDĐ. Năm 1966, Hội đất học và Hội nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong QHSDĐ.
Ngoài ra còn một số chuyên khảo khác cũng ra đời đề cập đến “ môi trường con người” trong đánh giá khả năng thích hợp của đất cho quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp. Phương pháp QHNLN cấp địa phương có thể được khái quát bằng 2 cách tiếp cận chủ yếu : Tiếp cận từ trên xuống và các tiếp cận từ dưới lên. Cách tiếp cận thứ nhất được hình thành từ khi có quy hoạch ra đời cho đến nay. Cách tiếp cận thứ hai được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng cộng đồng nông bản có vai trò không thể thiếu trong lập kế hoạch và quản lý tài nguyên của cộng đồng.
Từ đây, thuật ngữ “ Quy hoạch dựa vào cộng đồng” bắt đầu xuất hiện. Gilmour (1997) đã phân biệt hai loại tiếp cận, đó là tiếp cận kinh điển và tiếp cận lấy người dân làm trung tâm. Những nghiên cứu của ông về quy hoạch và quản lý rừng cộng đồng ở Nepal chứng tỏ những ưu thế về tiếp cận mới trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cộng đồng. Từ cuối những năm 1970, các phương pháp điều tra đánh gá cùng tham gia được nghiên cứu rộng rãi như : Đánh giá nhanh nônh bản ( PRA), phương pháp quá trình sáng tạo, phân tích HTCT cho QHSDĐ vi mô, vào những năm 1980 và đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, những thử nghiệm các phương pháp PRA trong phát triển nông bản và lập kế hoạch SDĐ được thực hiện trên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 30 nước phát triển cho thấy ưu thế của các phương pháp này trong lập kế hoạch lâm nông nghiệp cấp bản bản [10].
Luning (1990) lần đầu tiên nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ. Năm 1994, FAO đã công bố quy trình kết hợp đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ (LEFA), hạn chế là đòi hỏi hệ thống bảng tin phân tích lớn, khó áp dụng cho quy hoạch địa phương. Theo Erwin (1999), phân tích HTCT là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đình để xác định mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu SDĐ hiện tại và phương pháp SDĐ mới, đánh giá phương án SDĐ khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án một cách tốt nhất. FAO (1976) đã đề xuất cấu trúc khung QHSDĐ với 10 điểm chính.
Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng SDĐ được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch. Năm 1980, BuchWald đề xuất quá trình quy hoạch 8 bước, trong đó có những nghiên cứu đánh giá về sinh thái và KTXH được đề cập tách biệt ở các bước khác nhau. Điểm hạn chế này tạo nên sự thiếu tính liên ngành trong quy hoạch. Maydell (1984) cho rằng 4 điểm chính trong quá trình QHNLN các nước nhiệt đới là : Phân tích xu hướng nghĩa là phân tích hiện trạng và phát triển, xác định mục tiêu và nhiệm vụ, phân tích phương pháp, tiến hành đánh giá.
Năm 1985, một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế được FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình QHSDĐ. Wikingson (1985) nghiên cứu QHSDĐ theo khía cạnh luật pháp, ông đề nghị một hệ thống luật pháp thích hợp cần được phát triển nhằm mục đích : Cung cấp chính sách và mục tiêu rõ ràng của Nhà nước về đất đai, thiết lập các tổ chức SDĐ phù hợp, yêu cầu sử dụng theo quy trình kế hoạch và kỹ thuật, tăng cường sự bảng hiểu về SDĐ và khuyến khích xây dựng cơ chế giám sát và cưỡng chế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện không gia của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thỏa mãn các nhu cầu. Nó biểu hiện một sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học – sinh thái và môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội - văn hóa, qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật ( Vissac, 1979).
Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất cây trồng trong một nông hộ. Hệ thống cây trồng là tổ hợp cây trồng bố trí theo không gian và thời gian với các biện pháp kỹ thuật được thực hiện. HTCT là một phức hợp của đất đai, cây trồng, vật nuôi, lao động và các nguồn lợi đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý theo sở thích, khả năng và kỹ thuật có thể có trong một phạm vi nhất định để tạo ra sản phẩm nông nghiệp thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người. Du canh là HTCT đầu tiên trên thế giới.
Đây là kiểu SDĐ nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa ( Conklin ,1957). Cho đến nay, phương thức này vẫn được sử dụng phổ biến ở các vùng nhiệt đới. Tuy nhiên về chiến lược PTBV, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi vì du canh được coi là phí phạm về sức người và tài nguyên đất đai, là nguyên nhân gây mất rừng, là nguyên nhân chính gây nên tình trạng xói mòn và thoái hóa đất xảy ra nghiêm trọng ( Grinnell, 1977). Trên cơ sở giải quyết những nhược điểm của phương thức di canh đã có một số mô hình, HTCT mới ra đời.
Trong các PTCT nông nghiệp, canh tác nông lâm kết hợp ( NLKH) là một PTCT lâu đời trên thế giới. Blandford (1988) đã mô tả Taungya dường như là một PTCT cũ được áp dụng mà ở đó điều kiện hoàn cảnh rừng được tái tạo nên trên những trang trại của người nông dân và theo đó người ta thu được những hiệu quả có ích từ cấu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trúc rừng. Chính vì vậy các hệ thống Taungya cần phải được xem như là một hệ thống quản lý SDĐ có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp ( Nair, 1995). Tuy nhiên, dưới sức ép ngày càng lớn của việc gia tăng dân số thì Taungya tỏ ra không thích hợp.
Vấn đề đặt ra là phải có những phương thức mới, những mô hình SDĐ mới có hiệu quả và bền vững hơn. Một trong những nghiên cứu thành công là việc tìm ra HTCT trên đất dốc ( Slopping Agricultural Land Technology – SALT) đã được Trung tâm phát triển Nông bản Bapsip Midanao Philippines tổng kết và phát triển từ những năm 1970. Trải qua thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện, đến năm 1992 các nhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác trên đất dốc và đã được các tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia ghi nhận và áp dụng là SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4. - SALT 1 ( Slopping Agricultural Land Technology) là mô hình tổn hợp canh tác trên đất dốc với thành phần 25% cây lâm nghiệp, 25% cây nông nghiệp và 50% cây hàng năm.
- SALT 2 (Simple Agro – livestock Land Technology) là mô hình kỹ thuật canh tác nông súc đơn giản với 40% nông nghiệp, 20 % lâm nghiệp, 20% chăn nuôi, 20% làm nhà ở và chuồng trại. - SALT 3 ( Sustainable Agro – forest Land Technology) là mô hình canh tác nông lâm nghiệp bền vững với 60% cây lâm nghiệp, 40% cây nông nghiệp. Mô hình này đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực và vốn liếng cũng như sự hiểu biết. - SALT 4 ( Small Agro – fruit likelihood Technology) là mô hình kỹ thuật canh tác sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp cây ăn quả trên quy mô nhỏ với thành phần 60% cây lâm nghiệp, 15% cây nông nghiệp, 25% cây ăn quả.
Đây là mô hình đòi hỏi phải đầu tư cao nguồn lực, vốn cũng như kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ Ở Việt Nam các vấn đề về nghiên cứu đất đai, QHSDĐ đã được bắt đầu từ năm 1930, sau đó được hoàn thiện dần theo thời gian Trong giai đoạn 1925 – 1975, công tác điều tra, phân loại đất đã được tổng hợp một cách có hệ thống trên toàn miền Bắc. Nhưng đến sau năm 1975, các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản.
Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái ( Ngô Nhật Tiến, 1986, Đỗ Đình Sâm,1994…). Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc SDĐ. Công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác SD. Qua việc nghiên cứu hệ thống nông nghiệp tai khu vực đồng bằng sông Hồng, Đào Thế Tuấn ( 1989 ) đã chỉ ra được vấn đề tồn tại, nguyên nhân của nó và đề xuất các mục tiêu giải pháp.
Trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước các tác giả Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên (1993) đã xây dựng giáo trình hệ thống nông nghiệp. Ngoài phần hệ thống hóa nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp, công trình hỗ trợ đắc lực cho công tác nông nghiệp trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn Trong giai đoạn trước năm 1993, QHSDĐ được thực hiện bởi tổ chuyên môn trong từng ngành. Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của nhà nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng địa phương mà có các quy hoạch tầm vĩ mô. Năm 1996, tác giả Trần An Phong nghiên cứu các mô hình sử dụng đất dốc đã đi đến kết luận, biện pháp sử dụng đất có hiệu quả là bố trí chế độ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.