phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan thành phố Móng Cái. Phân tích, đánh giá cảnh quan và điều kiện kinh tế - xã hội - môi trƣờng cho hoạch định không gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng TP.
Móng Cái 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Nhằm xác lập cơ sở lý luận, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án, các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố đƣợc phân tích, đánh giá theo 3 nhóm vấn đề chính sau: (i) Các công trình nghiên cứu về cơ sở địa lý theo tiếp cận cảnh quan cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng; (ii) Các công trình nghiên cứu về tổ chức không gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng; (iii) Các công trình nghiên cứu về Móng Cái có liên quan đến đề tài. Các công trình nghiên cứu về cơ sở địa lý theo tiếp cận cảnh quan cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng a.
Thế giới * Về nội hàm của cơ sở địa lý theo tiếp cận cảnh quan Khoa học địa lý là một hệ thống khoa học tổng hợp với ba nhóm chính: (1) nhóm các ngành khoa học địa lý tự nhiên; (2) nhóm các ngành địa lý kinh tế - xã hội; (3) bản đồ học. Trong đó, địa lý tự nhiên có nhiệm vụ nghiên cứu về sự phân bố các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nhƣ nguồn lực tự nhiên. Địa lý kinh tế - xã hội nghiên cứu các điều kiện kinh tế và tài nguyên nhân văn nhƣ nguồn lực kinh tế - xã hội cho tổ chức lãnh thổ. Bản đồ học là khoa học thể hiện sự phân bố trong không gian, mối quan hệ và sự biến đổi của các đối tƣợng bằng các mô hình kí hiệu, các hình biểu thị thực tại dƣới hình thức trực quan và khái quát hóa (Từ điển Bách khoa Địa lý, 1988) [75].
Cảnh quan học là một chuyên ngành khoa học tổng hợp trong nhóm ngành các khoa học địa lý tự nhiên mà đối tƣợng nghiên cứu là các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên khác nhau, cùng với phân vùng địa lý tự nhiên đã có một vai trò quan trọng trong định hƣớng tổ chức không gian và định hƣớng sử dụng hợp lý, bảo vệ môi trƣờng và cải tạo lãnh thổ trong phát triển kinh tế - xã hội (A. Là một hƣớng nghiên cứu quan trọng trong hệ thống các khoa học địa lý, cảnh quan đã trải qua các giai đoạn phát triển gắn liền với mục đích khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng ở các quy mô lãnh thổ khác nhau. Trên 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ sở tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu đã công bố của các nhà khoa học Nga, Đức, Ba Lan và các nƣớc Tây Âu, Bắc Mỹ, cho thấy: - Các nhà khoa học Nga và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nghiên cứu cảnh quan theo hƣớng khoa học địa lý tự nhiên và là cơ sở cho các công trình phân vùng địa lý tự nhiên phục vụ thực tiễn sản xuất nhằm đáp ứng cho công cuộc quy hoạch phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa Xô Viết, đặc biệt là sản xuất nông – lâm nghiệp. Điều này, đƣợc thể hiện trong các công trình nghiên cứu đã công bố, trình bày về cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu thông qua các nghiên cứu thực địa tại các vùng cụ thể và đƣợc khái quát hóa thành cơ sở học thuyết cảnh quan của các nhà khoa học, nhƣ: V.
Kalexnik (1973),… Theo các tác giả, nghiên cứu cảnh quan với lợi thế tiếp cận hệ thống thông qua đặc điểm các điều kiện tự nhiên và đánh giá tổng hợp lãnh thổ cho các mục đích khác nhau để sử dụng có hiệu quả nhất, đặc biệt là mối quan hệ bên trong giữa các thành phần và các địa tổng thể cấp dƣới, cho phép dự báo đƣợc sự biến động của các địa tổng thể tự nhiên, nhất là để bảo vệ sự ổn định của chúng trƣớc những hoạt động tiêu cực của con ngƣời. Quan niệm về cảnh quan: Trong cảnh quan học, quan niệm về cảnh quan đƣợc chia theo các cách sau: + Quan niệm cảnh quan như phong cảnh: Vào đầu thế kỷ XIX, tại hầu hết các nƣớc phƣơng Tây “cảnh quan” đƣợc sử dụng với nghĩa là “phong cảnh”, xem cảnh quan là đơn vị hiển hiện (visisual unit) có thể nhìn thấy, đó là sự kết hợp giữa đƣờng nét sơn văn của địa hình và lớp phủ trên đó. Quan niệm này đƣợc sử dụng trong du lịch, quy hoạch đô thị (A. + Quan niệm cảnh quan như đơn vị địa hệ thống về mặt khoa học: (i) Quan niệm cá thể, xem cảnh quan là đơn vị cụ thể chỉ một phần lãnh thổ riêng biệt của lớp vỏ địa lý không lặp lại trong không gian và trong từng giai đoạn phát triển đặc điểm và cấu trúc của cảnh quan cũng không giống nhau.
Theo cách hiểu này, cảnh quan thƣờng đƣợc sử dụng trong phân vùng địa lý tự nhiên. Ở đây cảnh quan tƣơng đồng với cấp vùng (Ixatrenko, 1991), hoặc dƣới cấp vùng. (ii) Quan niệm cảnh quan là đơn vị loại hình, đó là một đơn vị phân loại trong hệ thống phân vị tổng hợp thể tự nhiên, trong đó mỗi cấp phân vị đƣợc coi là một đơn vị cảnh quan chịu tác động qua lại của các yếu tố tự nhiên và nhân sinh. Mỗi cấp phân vị đƣợc phân chia phải dựa vào hệ thống các chỉ tiêu đặc trƣng, trong đó những đơn vị cảnh quan cấp thấp đƣợc xem là những đơn vị cơ sở thể hiện sự phân dị lãnh thổ.
Cảnh 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan đƣợc hiểu theo nghĩa này thƣờng đƣợc sử dụng trong thành lập bản đồ cảnh quan phục vụ các mục đích thực tiễn (B. (iii) Quan niệm chung về cảnh quan: Cảnh quan là tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên bất kỳ, đồng nghĩa với địa tổng thể hay địa hệ. Cảnh quan hiểu theo nghĩa này đƣợc sử dụng trong phân vùng và phân loại cảnh quan ở bất kỳ lãnh thổ nào, không có giới hạn về không gian, không có trật tự phân cấp lôgic của các cấp cảnh quan. Quan niệm này đƣợc sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học và đời sống khác nhau.
+ Cảnh quan là đối tượng, là tư liệu sản xuất – cảnh quan nhân sinh: Cảnh quan chính bản thân nó là đối tƣợng, là tƣ liệu sản xuất hay là hệ sinh thái nhân sinh, mà trong đó con ngƣời là chỉnh thể; còn các bộ phận khác là đối tƣợng quan tâm của con ngƣời (cho nhu cầu con ngƣời). Trong quá trình hoạt động kinh tế, con ngƣời tác động vào cảnh quan tự nhiên và làm biến đổi chúng, cảnh quan bị biến đổi do hoạt động phát triển và bảo tồn của con ngƣời gọi là cảnh quan nhân sinh.A (1988), “Cảnh quan nhân sinh là các địa tổng thể, trong đó có sự biến dạng nảy sinh liên quan đến sự xuất hiện của hoạt động con người”. Cùng ý niệm với ông, Ixatrenco A.G (1965,1991) cho rằng: “Cảnh quan nhân sinh chỉ là sự biến dạng khác nhau của cảnh quan tự nhiên do hoạt động của con người”. Các cảnh quan này đƣợc xếp vào các bậc khác nhau trong phân loại cảnh quan theo mức độ biến đổi (dẫn theo D.
Có thể thấy, các tác giả đều đề cập tới những biến đổi của cảnh quan do tác động của con ngƣời, đặc biệt là tới cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan. Dƣới phƣơng diện nghiên cứu cảnh quan bị biến đổi hoặc đƣợc bảo tồn bởi con ngƣời khái niệm cảnh quan nhân sinh ở đây vừa đƣợc hiểu theo nghĩa chung (nhƣ một địa tổng thể - một địa hệ) và vừa hiểu theo nghĩa loại hình (các đơn vị kiểu, loại,. - Các nhà khoa học tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, quan niệm về cảnh quan thiên về hƣớng nghiên cứu ứng dụng và gắn với điều kiện xã hội – nhân văn, điều kiện văn hóa của từng địa phƣơng, từng khu vực, theo hƣớng thống nhất giữa tự nhiên – kinh tế xã hội để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xã hội. Các công trình nghiên cứu đã chú ý đến giao diện giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt cảnh quan văn hóa có thể đƣợc trẻ hóa hoặc hình thành cảnh quan văn hóa mới có cấu trúc khác trƣớc.
Theo 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà địa lý văn hóa Mỹ Carl Sauer (1927), "Cảnh quan văn hóa là những cảnh quan được thành tạo sau khi có hoạt động của một nền văn hóa, một nhóm yếu tố văn hóa lên tự nhiên". Cảnh quan tự nhiên qua thời gian chịu sự chi phối của nhân tố con ngƣời (văn hóa) hình thành nên các đơn vị lãnh thổ mang dấu ấn của con ngƣời với các dạng hoạt động nhân sinh phong phú và đa dạng (dân số, công nghiệp, nông nghiệp),. Đó chính là cảnh quan văn hóa hay còn gọi là cảnh quan nhân sinh. Sự hình thành và phát triển của cảnh quan nhân sinh phụ thuộc chặt chẽ vào những giá trị thực và sự thay đổi của tầm văn hóa theo không gian và thời gian (Jerry F.Franklin và Richard T.
Bên cạnh hƣớng tiếp cận văn hóa, tiếp cận sinh thái cũng là một hƣớng nghiên cứu phổ biến hiện nay trong nghiên cứu cảnh quan học ở nhiều nƣớc trên thế giới nhằm giải quyết các vấn đề sinh thái của lãnh thổ môi trƣờng sống trên các cảnh quan khác nhau. Các công trình về sinh thái cảnh quan đều phản ánh tính liên ngành địa lý học – sinh thái học và chú trọng nhiều đến các đặc trƣng sinh thái học và nhân văn của cảnh quan. Theo đó, sinh thái cảnh quan đƣợc hiểu là khoa học về cấu trúc và chức năng của các tổng hợp thể tự nhiên mà trong đó sinh vật và con ngƣời đƣợc xem nhƣ là hợp phần (Carl Troll- 1939; Paffen -1948, 1950, 1953;…. Đặc biệt với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và công nghệ vũ trụ trong xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và mô hình hóa không gian cung cấp cho công tác bảo tồn, phát triển kinh tế và quản lý môi trƣờng, nhất là trong quản lý đất đai ở các quốc gia nhƣ Hà Lan, Canada, Australia, Đức, ….