Tổng quan nghiên cứu

Quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam khởi đầu từ Đại hội VI năm 1986, trong đó sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm. Tính đến cuối năm 1991, thành phố Hà Nội có 800 doanh nghiệp nhà nước, riêng khu vực địa phương quản lý có 320 doanh nghiệp với hơn 72.000 cán bộ công nhân viên chức hoạt động trên 14 ngành kinh tế - kỹ thuật. Trong số đó, gần 90 doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 1 tỷ đồng (chiếm 28%), khoảng 40% doanh nghiệp có quy mô dưới 100 lao động và hơn 10% đơn vị lâm vào tình trạng thua lỗ kéo dài. Thực trạng phân tán nguồn lực, thất thoát tài sản công và sự suy giảm động lực lao động đòi hỏi một giải pháp đột phá về sở hữu và quản trị.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam của tác giả Trần Thị Lan tập trung nghiên cứu tiến trình cổ phần hóa và sự thích ứng của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc thành phố Hà Nội trong giai đoạn 1992 - 2002. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ quá trình triển khai đường lối của Đảng và Nhà nước, phân tích tác động của việc chuyển đổi loại hình sở hữu đến việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động. Đồng thời, công trình đánh giá toàn diện vai trò, chức năng đại diện bảo vệ lợi ích đoàn viên của tổ chức công đoàn cơ sở khi chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử và thực tiễn phong phú, phản ánh sinh động sự chuyển biến của 90 doanh nghiệp được cổ phần hóa tại Thủ đô trong suốt 10 năm chuyển đổi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tư duy lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của giai cấp công nhân và quan điểm của V.I. Lênin về chức năng của tổ chức công đoàn dưới chủ nghĩa xã hội: "công đoàn là trường học quản lý, trường học kinh tế, trường học chủ nghĩa xã hội". Luận văn kết hợp các luận điểm đổi mới kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI đến Đại hội IX, khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, còn cổ phần hóa là phương thức đa dạng hóa hình thức sở hữu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chứ không phải tư nhân hóa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm kinh tế - xã hội cốt lõi gồm:

  • Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Quá trình chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, huy động vốn từ người lao động và các nhà đầu tư bên ngoài.
  • Công đoàn cơ sở: Tổ chức chính trị - xã hội đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động tại doanh nghiệp, tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa.
  • Thỏa ước lao động tập thể: Văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động do công đoàn đại diện với người sử dụng lao động về điều kiện làm việc, tiền lương, tiền thưởng và an toàn vệ sinh lao động.
  • Quyền làm chủ của người lao động: Sự tham gia của công nhân viên chức với tư cách vừa là người làm công ăn lương, vừa là cổ đông sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng để xem xét các sự kiện trong trạng thái vận động, tương tác đa chiều. Phương pháp lịch sử được kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình cổ phần hóa qua 2 giai đoạn: giai đoạn thí điểm 1992 - 1997 và giai đoạn đẩy mạnh 1998 - 2002.

Về phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện 90 doanh nghiệp nhà nước đã hoàn tất cổ phần hóa tại Hà Nội tính đến cuối năm 2002, trong đó tập trung khảo sát sâu mẫu điển hình gồm 65 doanh nghiệp có báo cáo tài chính và lao động chi tiết thuộc các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ.
  • Nguồn dữ liệu: Văn kiện Đảng toàn quốc và Đảng bộ Hà Nội các khóa X, XI, XII, XIII; văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định 202/CT ngày 08/06/1992, Nghị định 28/CP ngày 07/05/1996, Nghị định 44/1998/NĐ-CP và Nghị định 64/2002/NĐ-CP; các báo cáo thống kê của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Hà Nội, Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp thành phố, cùng tư liệu thực tế của Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp phương pháp thống kê mô tả, so sánh đối chiếu số liệu trước và sau chuyển đổi cho phép đánh giá khách quan các biến động về vốn, doanh thu, lợi nhuận cũng như mức độ bảo đảm quyền lợi người lao động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu giai đoạn 1992 - 2002 tại Hà Nội ghi nhận những kết quả nổi bật về cả phương diện kinh tế lẫn tổ chức công đoàn:

  • Nâng cao năng lực tài chính và quy mô sản xuất: Trước cổ phần hóa, mức vốn bình quân chỉ đạt 2,12 tỷ đồng/doanh nghiệp với 30% đơn vị có vốn dưới 1 tỷ đồng. Sau chuyển đổi, vốn bình quân tăng lên 4,6 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 2,2 lần). Tiêu biểu như Công ty Cổ phần Kính mắt Hà Nội tăng vốn từ 3,1 tỷ đồng lên 12,6 tỷ đồng, Công ty Cổ phần Việt Hà tăng từ 4,5 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng. Quá trình cổ phần hóa đã huy động được 351,4 tỷ đồng vốn từ dân cư, chiếm 78% tổng vốn điều lệ của các doanh nghiệp.

  • Cải thiện việc làm, thu nhập và vị thế cổ đông: Trong tổng số 65 doanh nghiệp báo cáo chi tiết, các đơn vị đã đầu tư 382 máy móc mới và mở rộng thêm diện tích nhà xưởng, qua đó tuyển dụng thêm 622 lao động mới. Thu nhập bình quân của người lao động tăng từ mức 400.000 đồng/tháng giai đoạn 1992 - 1995 lên hơn 600.000 đồng/tháng giai đoạn 1996 - 1997 và tiếp tục tăng trưởng ổn định. Có 9.809 người lao động trong doanh nghiệp trở thành cổ đông, được mua cổ phần ưu đãi giảm 30% giá trị với tổng số tiền ưu đãi trên 40 tỷ đồng. Tỷ lệ chia cổ tức bình quân đạt trên 10%/năm, cá biệt có đơn vị đạt 22% đến 30%/năm như Công ty Cổ phần Xây dựng Ba Đình hay Công ty Dịch vụ Thương mại Công nghiệp.

  • Thực thi chính sách an sinh và vai trò đại diện công đoàn: Đến hết năm 2002, thành phố đã chi trả trên 20 tỷ đồng để giải quyết chế độ cho gần 1.000 lao động dôi dư và cấp 4,5 tỷ đồng kinh phí đào tạo lại nghề. Công đoàn cơ sở đã thực hiện ký lại 100% hợp đồng lao động và sửa đổi thỏa ước lao động tập thể tại tất cả các doanh nghiệp chuyển đổi, đảm bảo quyền lợi bảo hiểm xã hội, điều kiện an toàn vệ sinh lao động và phân chia quỹ phúc lợi minh bạch.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  SO SÁNH CÁC CHỈ SỐ DOANH NGHIỆP TẠI HÀ NỘI             |
|                                                                         |
| Chỉ tiêu                    Trước CPH               Sau CPH             |
| ----------------------------------------------------------------------- |
| Vốn bình quân/DN            2,12 tỷ VNĐ             4,60 tỷ VNĐ (+117%) |
| Thu nhập bình quân          400.000 VNĐ/tháng       600.000+ VNĐ/tháng  |
| Lao động dôi dư giải quyết  0 người                 Gần 1.000 người     |
| Số lao động thành cổ đông   0 người                 9.809 người         |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đồng thời của doanh thu (tăng bình quân 1,1 lần) và lợi nhuận (tăng bình quân 1,5 lần) khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đổi mới quản trị theo mô hình công ty cổ phần. Dữ liệu thực tế cho thấy cơ chế cổ phần hóa đã gắn kết chặt chẽ lợi ích cá nhân của người lao động với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua quyền sở hữu cổ phần và quyền biểu quyết.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế lớn trong giai đoạn này. Tiến độ cổ phần hóa diễn ra không đều, có xu hướng chững lại từ năm 2000 đến 2002 (chỉ cổ phần hóa thêm 24 doanh nghiệp). Công tác định giá tài sản, đặc biệt là quyền sử dụng đất tại các vị trí đắc địa, gặp nhiều vướng mắc do thiếu hành lang pháp lý đồng bộ, dẫn đến hiện tượng đầu cơ gom cổ phiếu nhằm chiếm giữ bất động sản tại một số đơn vị như Công ty Cổ phần Hữu Nghị, Công ty Cổ phần Nhiếp Ảnh, Công ty Cổ phần Phú Gia. Về phía công đoàn, khi chuyển sang công ty cổ phần, nhiều cán bộ công đoàn kiêm nhiệm còn lúng túng trong phương thức đấu tranh bảo vệ quyền lợi người lao động, nhất là tại những doanh nghiệp mà chủ tịch công đoàn không tham gia Hội đồng quản trị.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn 10 năm tại Hà Nội, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Hoàn thiện cơ chế đại diện và nâng cao chất lượng thỏa ước lao động tập thể: Đổi mới toàn diện nội dung thương lượng tập thể, bảo đảm 100% doanh nghiệp cổ phần hóa xây dựng bản thỏa ước lao động tập thể có các điều khoản cao hơn luật định về tiền lương, an toàn lao động và bảo hiểm. Liên đoàn Lao động thành phố và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở chịu trách nhiệm triển khai trong vòng 6 tháng kể từ khi doanh nghiệp nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới.

  • Chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn và cơ cấu vào bộ máy quản trị: Xây dựng đề án chuẩn hóa chuyên môn cho 100% cán bộ công đoàn chủ chốt về kiến thức kinh tế, quản trị doanh nghiệp và Luật Lao động. Phấn đấu đạt mục tiêu tối thiểu 80% công đoàn cơ sở cử được đại diện tham gia Hội đồng quản trị hoặc Ban Kiểm soát công ty cổ phần, lộ trình thực hiện từ năm 2003 đến năm 2005 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Thành ủy Hà Nội chỉ đạo.

  • Tăng cường ngân sách đào tạo lại và nâng cao tay nghề người lao động: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với công đoàn thành phố giải ngân nguồn kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề hàng năm khoảng 5 tỷ đồng. Mục tiêu đảm bảo 100% công nhân kỹ thuật được đào tạo cập nhật công nghệ mới, giảm tỷ lệ lao động phải nghỉ chờ việc xuống dưới 2% trong toàn bộ các công ty cổ phần.

  • Siết chặt quản lý nhà nước về định giá tài sản, quyền sử dụng đất và cổ phần ưu đãi: Ban Đổi mới doanh nghiệp thành phố phối hợp Sở Tài chính hoàn thiện quy trình kiểm kê, thẩm định giá trị thương hiệu và quyền thuê đất, xử lý dứt điểm 100% các khoản nợ tồn đọng trước khi bán đấu giá. Ngăn chặn triệt để tình trạng chuyển nhượng cổ phiếu ưu đãi trái quy định nhằm thâu tóm đất công, đảm bảo chính sách giảm giá 30% cổ phần đến đúng đối tượng công nhân lao động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống tư liệu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá thực tiễn chính sách tài chính, đất đai và lao động, từ đó hoàn thiện các nghị định về cổ phần hóa và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước trong các giai đoạn tiếp theo.

  • Cán bộ công đoàn các cấp và hệ thống Liên đoàn Lao động: Là tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ thực tế về quy trình tham gia ban đổi mới doanh nghiệp, phương pháp giám sát phân chia quỹ phúc lợi, cách thức tổ chức đại hội công nhân viên chức bất thường và kỹ năng đàm phán thỏa ước lao động tập thể tại 90 doanh nghiệp chuyển đổi.

  • Ban điều hành và Hội đồng quản trị các công ty cổ phần: Giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt cơ chế phối hợp hài hòa với tổ chức công đoàn, tối ưu hóa các phong trào thi đua lao động giỏi nhằm nâng cao năng suất và gắn kết cổ đông lao động với mục tiêu sản xuất kinh doanh.

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Lịch sử, Kinh tế, Quản lý công: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới, cung cấp hệ thống số liệu thực chứng đáng tin cậy về biến động cơ cấu giai cấp công nhân và phong trào công đoàn Thủ đô.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Hà Nội giai đoạn 1992 - 1997 diễn ra chậm?

Trong giai đoạn thí điểm 1992 - 1997, Hà Nội mới chỉ cổ phần hóa được 5 doanh nghiệp nhà nước do đây là chủ trương hoàn toàn mới mẻ, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ và tâm lý e ngại mất quyền quản lý của cán bộ lãnh đạo cũng như nỗi lo mất việc làm của 72.000 lao động tại Thủ đô.

2. Người lao động trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được hưởng những chính sách ưu đãi tài chính nào?

Theo Nghị định 28/CP và Nghị định 44/1998/NĐ-CP, người lao động được sử dụng số dư quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi để mua cổ phần, được mua cổ phần ưu đãi với giá giảm 30% (bình quân 8 cổ phiếu/năm công tác) và lao động nghèo được hỗ trợ mua trả chậm trong thời hạn 5 đến 10 năm với lãi suất ưu đãi.

3. Vị thế và chức năng của tổ chức công đoàn thay đổi thế nào sau khi doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần?

Công đoàn không còn là cơ quan đồng quản lý hành chính như thời bao cấp mà chuyển sang vai trò đại diện tập thể người lao động trong quan hệ lao động hợp đồng, thực hiện giám sát việc thực thi Luật Doanh nghiệp, bảo đảm quyền làm chủ của cổ đông lao động và duy trì các phong trào thi đua sản xuất.

4. Tình trạng đầu cơ bất động sản phát sinh sau cổ phần hóa tại Hà Nội diễn ra như thế nào?

Do sự thiếu vắng hướng dẫn định giá quyền sử dụng đất trong giai đoạn 1998 - 2002, một số cá nhân đã mua gom cổ phần của người lao động tại các doanh nghiệp có vị trí kinh doanh đắc địa như Công ty Cổ phần Hữu Nghị hay Công ty Cổ phần Nhiếp Ảnh nhằm mục đích thâu tóm bất động sản, làm mất ổn định sản xuất kinh doanh ban đầu.

5. Kết quả kinh tế tổng quát của các doanh nghiệp nhà nước tại Hà Nội sau khi hoàn tất cổ phần hóa đạt được mức nào?

Hầu hết các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều chấm dứt tình trạng thua lỗ kéo dài, vốn điều lệ tăng gấp 2,2 lần (bình quân đạt gần 4,6 tỷ đồng/doanh nghiệp), doanh thu tăng 1,1 lần, lợi nhuận tăng 1,5 lần và mức chia cổ tức cho cổ đông duy trì đều đặn từ 10% đến 30%/năm.

Kết luận

  • Luận văn đã tổng kết toàn diện quá trình chuyển đổi mô hình sở hữu tại 90 doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 1992 - 2002.
  • Công trình chứng minh cổ phần hóa là động lực mở rộng quy mô vốn lên 2,2 lần và giải quyết việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động Thủ đô.
  • Đánh giá thực chất vai trò nòng cốt của công đoàn cơ sở trong việc bảo vệ quyền lợi đoàn viên và giữ gìn tài sản phúc lợi tập thể.
  • Hệ thống hóa các bài học kinh nghiệm về xử lý lao động dôi dư với ngân sách trên 20 tỷ đồng và kiểm soát tình trạng đầu cơ cổ phần.
  • Đề xuất khung giải pháp hoàn thiện phương thức hoạt động của công đoàn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là dựng lại bức tranh lịch sử chân thực, khoa học và giàu tư liệu thực chứng về phong trào công nhân và tổ chức công đoàn Thủ đô trong thập niên đầu tiên của tiến trình cổ phần hóa. Để tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị quan hệ lao động, các cơ quan hữu quan cần nhanh chóng thể chế hóa vai trò của công đoàn trong Hội đồng quản trị và triển khai các chương trình giám sát định giá tài sản doanh nghiệp ngay trong giai đoạn 2003 - 2005. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý quan tâm có thể tra cứu chi tiết toàn văn tài liệu tại Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.