Chương 1. Cơ sở lý luận của pháp luật về CPH ĐVSNCL. Thực trạng pháp luật về CPH Trung tâm Đăng kiểm XCGĐB Ninh Thuận. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả về CPH ĐVSNCL từ thực tiễn thực hiện tại Trung tâm Đăng kiểm XCGĐB Ninh Thuận.
+ Kết luận chung + Tài liệu tham khảo + Phụ lục 123doc 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CỔ PHẦN HÓA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ QLNN2.
Trong quá trình hoạt động ĐVSNCL được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí, được tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập: Các ĐVSNCL không chỉ đông đảo về số lượng. Mà còn đa dạng về loại hình, lĩnh vực hoạt động. Do vậy, việc phân loại ĐVSNCL rất phức tạp tùy theo tiêu chí phân loại.
- Dưới góc độ quyền tự chủ kinh phí hoạt động, ĐVSNCL có hai loại3: + Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn; + Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn. Tiêu chí phân loại này không chỉ dựa trên khả năng tự chủ tài chính mà còn phụ thuộc vào mức độ tự chủ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự. - Dưới góc độ khả năng đảm bảo chi thường xuyên, ĐVSNCL có bốn loại4: + Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; + Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; + Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; + Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. - Xét dưới góc độ địa vị pháp lý, ĐVSNCL có thể chia thành năm loại sau: + Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; + Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục; 2 Điều 9 của Luật Viên chức (Luật số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc hội) 3 Luật Viên chức năm 2010 4 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL 123doc 10 + Đơn vị thuộc UBND cấp tỉnh; + Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh; + Đơn vị thuộc UBND cấp huyện.
Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Qua khái niệm và phân loại như trên có thể thấy đặc điểm của ĐVSNCL bao gồm: - Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; - Là bộ phận thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - ĐVSNCL phải có tư cách pháp nhân. - ĐVSNCL có chức năng cung cấp một số loại dịch vụ công hay còn gọi là hàng hoá công cộng đặc biệt. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa ĐVSNCL và doanh nghiệp mang tính chất thương mại thuần tuý.
- ĐVSNCL có thể do một cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội làm cơ quan chủ quản, nhưng ĐVSNCL không nhân danh quyền lực nhà nước, không thực hiện quyền lực nhà nước. - Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong ĐVSNCL. - ĐVSNCL được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí, được tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức. Khái niệm cổ phần hóa và cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập, bản chất quá trình cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm cổ phần hóa Cổ phần hóa là quá trình chuyển doanh nghiệp từ chủ sở hữu là Nhà nước sang hình thức chủ sở hữu nhiều thành phần đồng thời doanh nghiệp cũng chuyển hình thức hoạt động sang loại hình CTCP từ loại hình DNNN hoặc ĐVSNCL. 123doc 11 Nói một cách nôm na dễ hiểu thì cổ phần hoá là quá trình chuyển từ việc sở hữu của một pháp nhân từ một chủ sở hữu (do Nhà nước nắm giữ) sang trạng thái sở hữu do nhiều chủ sở hữu (cổ đông) nắm giữ. Khái niệm cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập Cổ phần hóa ĐVSNCL là quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới của một số lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội cung cấp dịch vụ công nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát triển của đất nước, từng bước nâng cao mức hưởng thụ về dịch vụ công của Nhân dân. Bản chất công tác cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập - Xét về bản chất pháp lý: CPH ĐVSNCL là việc chuyển hóa đơn vị thuộc sở hữu của Nhà nước thành CTCP, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất thành sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của đơn vị cho những người khác.
- Xét về mặt hình thức: CPH ĐVSNCL là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị vốn của mình trong đơn vị cho các tổ chức hoặc tư nhân hay cho cán bộ quản lý và người lao động của ĐVSNCL bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán đề hình thành các CTCP. - Xét về mặt thực chất: CPH ĐVSNCL chính là phương thức xã hội hóa sở hữu, chuyển hình thái cung cấp dịch vụ công với một chủ sở hữu là Nhà nước thành CTCP với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường nhằm huy động các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội tham gia cùng với Nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ công, phá bỏ sự độc quyền, bao cấp của Nhà nước để một mặt sẽ giảm tải được gánh nặng cho các cơ quan công quyền, mặt khác khai thác được tối đa các nguồn lực trong xã hội, đáp ứng tốt nhu cầu thụ hưởng dịch vụ của Nhân dân. Tính tất yếu khách quan và các tác động của cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập 123doc 12 1. Tính tất yếu khách quan của cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập Ở Việt Nam, tính đến hiện nay cả nước có khoảng 58.000 ĐVSNCL (chưa bao gồm các tổ chức thuộc Quân đội, Công an); trong đó khối Chính phủ quản lý có 57.
Các ĐVSNCL hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, trong đó đối với khối ĐVSNCL thuộc Chính phủ quản lý có: 41.310 đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo (chiếm 72,26%); 605 đơn vị sự nghiệp dạy nghề (chiếm 1,06%); 6.134 đơn vị sự nghiệp y tế (chiếm 10,73%); 454 đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ (chiếm 0,79%); 1.774 đơn vị sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch (chiếm 3,1%; 654 đơn vị sự nghiêp báo chí, xuất bản (chiếm 14,14%); 6.239 đơn vị sự nghiệp khác (chiếm 10,92%)6. Về thực trạng thực hiện tự chủ tài chính trong khối ĐVSNCL do Chính phủ quản lý: Có 109 đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư (chiếm 0,19%); 1.878 đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên (chiếm 3,33%); 12.841 đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên (chiếm 22,78%); 41.539 đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ (chiếm 73,70%)7. Theo số liệu của Bộ Tài chính thì tính đến năm 2018 mới chỉ CPH được trên 50 ĐVSNCL (chiếm khoảng 0,09%) số lượng ĐVSNCL trên cả nước8. Như vậy so với hiện trạng về số lượng các ĐVSNCL nêu trên thì số lượng các ĐVSNCL đã thực hiện chuyển đổi, CPH là rất ít.
Việc đổi mới hệ thống, chuyển đổi các ĐVSNCL còn chậm so với lộ trình, tiến độ theo chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 5/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ 5 Báo cáo số 238-CV/BCSĐCP ngày 19/9/2017 của Ban cán sự Đảng Chính phủ về Đề án đổi mới cơ chế quản lý tài chính và tổ chức lại hệ thống ĐVSNCL 6 Báo cáo số 238-CV/BCSĐCP ngày 19/9/2017 của Ban cán sự Đảng Chính phủ về Đề án đổi mới cơ chế quản lý tài chính và tổ chức lại hệ thống ĐVSNCL 7 Báo cáo số 238-CV/BCSĐCP ngày 19/9/2017 của Ban cán sự Đảng Chính phủ về Đề án đổi mới cơ chế quản lý tài chính và tổ chức lại hệ thống ĐVSNCL. 8 Theo số liệu tại Họp báo chuyên đề “Kết quả thoái vốn, cổ phần hóa DNNN 6 tháng đầu năm 2019; nội dung cơ bản chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần” do Bộ Tài chính tổ chức ngày 05/8/2019. 123doc 13 thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL9. Hiện nay ở nước ta, khoảng 70% chi thường xuyên của NSNN dành cho chi lương10, trong khi áp lực giảm chi NSNN đang là vấn đề đặt ra hàng đầu của Chính phủ, song vấn đề đảm bảo lộ trình tăng lương theo thời gian cũng đang được Chính phủ hết sức quan tâm.
Bài toán đặt ra là làm thế nào để vừa giảm bớt chi thường xuyên về lương cho NSNN, vừa có nguồn để tăng lương cho khối nhân sự trong khu vực công. Một trong những lời giải cho bài toán này, đó là việc đưa các ĐVSNCL có thu ra khỏi sự bao cấp của NSNN, đồng thời nâng cao tính tự chủ của các đơn vị này để dành nguồn NSNN chi trả lương cho các cán bộ, công chức ở khối cơ quan hành chính. Và một trong những giải pháp để đẩy mạnh tính tự chủ của các ĐVSNCL này, đó chính là CPH - chuyển đổi mô hình hoạt động. Hiện nay, phần lớn các ĐVSNCL là ĐVSNCL đảm bảo một phần chi thường xuyên và ĐVSNCL do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.
Ở các đơn vị này các hoạt động thu chi đều thực hiện dựa trên dự toán NSNN. Được Nhà nước bao cấp nên các ĐVSNCL có xu hướng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào các cơ quan cấp trên, chưa thực sự chủ động sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ cũng như chủ động tăng nguồn thu cho đơn vị mình. Vì vậy, tính tự chủ ở các ĐVSNCL hiện nay chưa cao, một số sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công của Nhà nước vẫn duy trì chính sách định giá thấp hơn chi phí cần thiết cung cấp dịch vụ (như học phí, viện phí.