Tổng quan nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam, công tác sắp xếp và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò then chốt đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô. Tính đến hết năm 2007, toàn quốc đã thực hiện sắp xếp thành công 5.366 doanh nghiệp, trong đó hình thức cổ phần hóa chiếm tỷ trọng chủ đạo với hơn 3.000 đơn vị, mang lại mức tăng trưởng vốn điều lệ bình quân 58,6% sau một năm chuyển đổi. Tuy nhiên, việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Quốc phòng lại đặt ra nhiều bài toán phức tạp do đặc thù lưỡng dụng vừa sản xuất kinh tế vừa đảm bảo nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là làm sáng tỏ những xung đột pháp lý giữa Luật Doanh nghiệp với hệ thống pháp luật quân sự chuyên ngành, nhằm thiết lập mô hình quản trị hiệu quả cho doanh nghiệp quân đội. Mục tiêu cụ thể của luận văn hướng đến việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn tại 46 doanh nghiệp quân đội thuộc diện cổ phần hóa và đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các đơn vị kinh tế trực thuộc Bộ Quốc phòng từ khi ban hành Nghị định 388/HĐBT năm 1991 đến giai đoạn thực hiện Quyết định 339/QĐ-TTg năm 2008. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo toàn 100% vốn nhà nước và đảm bảo việc làm ổn định cho hơn 30.000 lao động quốc phòng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết kinh tế và quản trị hiện đại: Lý thuyết quyền sở hữu tài sản và Lý thuyết đại diện. Lý thuyết quyền sở hữu tài sản chỉ rõ rằng việc chuyển đổi từ sở hữu đơn nhất của nhà nước sang đa sở hữu với sự tham gia của các nhà đầu tư ngoài nhà nước sẽ tạo động lực kinh tế mạnh mẽ, giảm thiểu thất thoát vốn công và nâng cao trách nhiệm giải trình. Lý thuyết đại diện làm sáng tỏ yêu cầu cấp thiết phải phân định rõ ràng giữa chức năng chủ sở hữu vốn của cơ quan quản lý và quyền điều hành trực tiếp của ban giám đốc, khắc phục tình trạng bao cấp và quan hệ hành chính mệnh lệnh. Bên cạnh đó, luận văn làm rõ 4 khái niệm pháp lý cốt lõi: cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP; doanh nghiệp quân đội làm kinh tế; địa vị pháp lý kép của quân nhân; và cơ chế quản lý quyền sử dụng đất quốc phòng theo Luật Đất đai 2003. Khung phân tích tập trung vào các chỉ số đo lường như tỷ lệ nắm giữ vốn nhà nước từ 30% đến 51% và cơ chế biểu quyết dân chủ trong công ty cổ phần.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ văn kiện của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của Bộ Quốc phòng cùng báo cáo tài chính của 30 doanh nghiệp quân đội đã cổ phần hóa tính đến tháng 12 năm 2007. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 46 doanh nghiệp quân đội thuộc diện sắp xếp, chuyển đổi theo danh mục phê duyệt tại Quyết định 98/2005/QĐ-TTg và Quyết định 339/QĐ-TTg. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích phi ngẫu nhiên, bao quát 100% các đơn vị đại diện cho 3 khối ngành chính: công nghiệp quốc phòng, xây lắp công trình và thương mại dịch vụ hậu cần. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp thống kê mô tả là nhằm đối chiếu toàn diện những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với mô hình tư nhân hóa tại Nga (nơi phát hành 144 triệu séc cho 79% dân số) và Trung Quốc, từ đó đánh giá mức độ tương thích của quy chuẩn quân sự trong môi trường thị trường giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2008.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cổ phần hóa tạo ra bước chuyển biến vượt bậc về hiệu quả tài chính và kinh doanh. Khảo sát trên 1.616 doanh nghiệp cổ phần hóa cả nước cho thấy doanh thu bình quân tăng 48,2%, lợi nhuận tăng trưởng vượt trội, nộp ngân sách tăng 44,2%, thu nhập người lao động tăng 51,8% và tỷ lệ chi trả cổ tức bình quân đạt 13%.
Thứ hai, tại khối quân đội, gần 30 doanh nghiệp chuyển đổi thành công trước năm 2008 đều ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ. Tiêu biểu là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) tăng vốn điều lệ từ 20 tỷ đồng khi thành lập năm 1994 lên hơn 3.000 tỷ đồng vào tháng 12 năm 2008, tương đương mức tăng 150 lần. Các đơn vị như Công ty Cổ phần Nhựa Bao bì Vinh hay Công ty Cổ phần Nicotex đều nâng cao thu nhập người lao động trên 50% và xóa bỏ triệt để tình trạng trì trệ.
Thứ ba, tiến độ thực hiện cổ phần hóa 46 đơn vị quân đội vẫn gặp nhiều trở ngại do 3 điểm nghẽn pháp lý: sự mâu thuẫn giữa quy định định giá đất theo thị trường với chế độ quản lý đất quốc phòng; sự lúng túng khi giải quyết chế độ cho 100% quân nhân chuyển diện; và tâm lý luyến tiếc cơ chế bao cấp.
Thứ tư, bài học quốc tế chỉ ra rằng tư nhân hóa ồ ạt qua séc tại Nga với 75% doanh nghiệp chọn mô hình nội bộ nắm giữ 51% cổ phần đã gây thất thoát tài sản lớn, trái ngược với kinh nghiệm thoái vốn minh bạch tại Anh (thu về 22,25 tỷ USD) và Pháp (đạt 275 tỷ Franc).
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản khiến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp quân đội bị chậm trễ bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa hệ thống pháp luật doanh nghiệp chung (Luật Doanh nghiệp 2005) và các luật quân sự như Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Nghĩa vụ quân sự cùng Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng. Doanh nghiệp quân đội mang tính chất đặc thù kép: vừa tìm kiếm lợi nhuận vừa phải sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng khi có yêu cầu tác chiến. Toàn bộ bức tranh biến động các chỉ tiêu tài chính trước và sau cổ phần hóa có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh doanh thu và lợi nhuận, kết hợp bảng thống kê phân loại 46 doanh nghiệp theo 3 nhóm ngành sản xuất nhằm minh chứng mức độ phân hóa hiệu quả kinh tế. Điều này khẳng định việc cổ phần hóa là định hướng tất yếu nhưng đòi hỏi hành lang pháp lý chuyên biệt nhằm bảo toàn đất quốc phòng và nguồn vốn nhà nước.
Đề xuất và khuyến nghị
Một là, ban hành văn bản pháp luật đặc thù: Bộ Quốc phòng cần chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch trước quý 4 năm 2009 để hướng dẫn chi tiết phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp quân đội và quản lý đất quốc phòng khi chuyển đổi, mục tiêu giải quyết dứt điểm 100% vướng mắc tồn đọng tại 16 doanh nghiệp đang chờ xử lý.
Hai là, xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản hành chính: Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp Bộ Quốc phòng cần triển khai lộ trình giai đoạn 2009 - 2010 nhằm tách bạch chức năng quản lý nhà nước về quân sự với quyền quản trị kinh doanh, chuyển giao quyền đại diện phần vốn nhà nước tại hơn 30 công ty cổ phần cho người đại diện chuyên trách hoặc các tổ chức quản lý vốn chuyên nghiệp.
Ba là, hoàn thiện chính sách đãi ngộ quân nhân: Tổng cục Chính trị và Cục Cán bộ cần xây dựng quy chế chuyển tiếp cho 100% sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp công tác tại công ty cổ phần, đảm bảo duy trì đầy đủ quyền lợi bảo hiểm và phụ cấp quân hàm, hoàn tất hướng dẫn thực hiện trong thời hạn 12 tháng.
Bốn là, đẩy mạnh bán đấu giá công khai qua sàn giao dịch: Hội đồng cổ phần hóa các doanh nghiệp trực thuộc cần thực hiện chào bán tối thiểu 30% đến 49% vốn điều lệ ra công chúng, xóa bỏ tình trạng khép kín nội bộ nhằm hoàn thành kế hoạch chuyển đổi 12 doanh nghiệp theo Quyết định 339/QĐ-TTg trước năm 2010.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là ban lãnh đạo và ban chỉ đạo đổi mới tại các doanh nghiệp quân đội: Nghiên cứu cung cấp quy trình 6 bước cổ phần hóa chuẩn mực theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP, giúp nhận diện và phòng ngừa 100% các rủi ro pháp lý về tài sản, đất đai và tài chính trong quá trình chuyển đổi mô hình hoạt động.
Nhóm thứ hai là cơ quan tham mưu chính sách thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, sửa đổi hơn 10 văn bản hướng dẫn về quản lý tài chính và lao động đặc thù trong quân đội.
Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Luật Kinh tế: Công trình là tài liệu học thuật giá trị với kho dữ liệu so sánh pháp luật quốc tế từ Nga và Trung Quốc qua hơn 100 trang khảo cứu chuyên sâu.
Nhóm thứ tư là các tổ chức tài chính và nhà đầu tư chiến lược trên thị trường chứng khoán: Báo cáo giúp phân tích tiềm năng tăng trưởng, định giá tài sản thực và nắm bắt cơ hội sinh lời trên 15% mỗi năm từ danh mục 46 doanh nghiệp quân đội tiến hành cổ phần hóa.
Câu hỏi thường gặp
Cổ phần hóa doanh nghiệp quân đội có làm suy giảm tiềm lực quốc phòng hay không? Cổ phần hóa không làm suy giảm mà giúp gia tăng tiềm lực quốc phòng. Nhà nước tiếp tục nắm giữ 100% vốn tại các đơn vị quốc phòng trọng yếu, trong khi các đơn vị làm kinh tế thuần túy chuyển sang mô hình công ty cổ phần giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng vốn điều lệ bình quân hơn 58% và tạo nguồn lực tái đầu tư hiện đại hóa quân đội.
Đất quốc phòng được xử lý như thế nào khi doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa? Theo quy định tại Luật Đất đai 2003 và Nghị định 109/2007/NĐ-CP, đất quốc phòng phục vụ nhiệm vụ quân sự không được tính vào giá trị doanh nghiệp để chia cổ phần. Doanh nghiệp sau cổ phần hóa phải ký hợp đồng thuê đất và nộp tiền thuê đất hàng năm theo giá thị trường đối với phần diện tích phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo đảm 100% diện tích đất được quản lý đúng mục đích.
Chế độ của sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp thay đổi ra sao sau cổ phần hóa? Quân nhân công tác tại doanh nghiệp cổ phần hóa được quyền lựa chọn tiếp tục phục vụ quân đội để điều động công tác mới hoặc chuyển ngành, thôi việc hưởng trợ cấp một lần. Những người tự nguyện ở lại làm việc cho công ty cổ phần được hưởng quyền mua cổ phần ưu đãi giảm 30% so với giá sàn đấu giá dựa trên thâm niên công tác thực tế.
Tại sao mô hình tư nhân hóa bằng séc của Liên bang Nga là bài học cảnh tỉnh cho Việt Nam? Nga thực hiện tư nhân hóa ồ ạt qua việc phát hành 144 triệu séc trong giai đoạn 1992 - 1994 khi chưa có thị trường tài chính hoàn chỉnh, dẫn đến 79% dân chúng bán tháo séc với giá rẻ. Hậu quả là tài sản công bị thâu tóm bởi một nhóm thiểu số, làm sụt giảm nghiêm trọng năng suất sản xuất và gây thất thu hàng trăm tỷ rúp ngân sách.
Nghị định 109/2007/NĐ-CP có những điểm cải tiến căn bản nào so với Nghị định 187/2004/NĐ-CP? Nghị định 109/2007/NĐ-CP quy định 3 hình thức chuyển đổi vốn linh hoạt, bắt buộc tính giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường và yêu cầu bán đấu giá công khai qua các tổ chức tài chính trung gian. Cơ chế mới này khắc phục triệt để tình trạng cổ phần hóa khép kín nội bộ, bảo toàn 100% giá trị tài sản nhà nước khi chuyển giao.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội, khẳng định tính tất yếu của quá trình chuyển đổi theo định hướng kinh tế thị trường.
- Phân tích sâu sắc thực trạng chuyển đổi tại 46 doanh nghiệp quân đội giai đoạn 1991 - 2008, làm rõ các thành tựu tăng trưởng vốn cũng như các vướng mắc pháp lý về đất đai và nhân sự.
- Đúc rút những bài học kinh nghiệm quốc tế đắt giá từ quá trình tư nhân hóa tại Liên bang Nga với 144 triệu séc và mô hình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tại Trung Quốc.
- Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp thể chế mang tính đồng bộ và khả thi cao, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh trong lộ trình 2009 - 2010.
- Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp hoàn thiện pháp luật kinh tế quốc phòng, thúc đẩy việc bảo toàn và phát triển 100% nguồn vốn nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn diện.
Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp quân đội hãy chủ động tham khảo và áp dụng ngay hệ thống giải pháp pháp lý của luận văn để chuẩn hóa quy trình cổ phần hóa trong giai đoạn 2009 - 2010, tạo bước chuyển biến vững chắc về hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn liền với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng toàn dân.