đặt vấn đề "làm cho kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác" [32, tr 59], "chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông, thể hiện được tính ưu việt" [32, tr 61]. Đại hội VII (năm 1991) nhận định kinh tế quốc doanh đang nắm các vị trí then chốt, gần một phần ba các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh vươn lên trong kinh doanh và thích ứng được với cơ chế mới. Nhưng điểm yếu nhất của kinh tế quốc doanh là hiệu quả hoạt động nhìn chung còn thấp [32, tr 235]. Đại hội đề ra nhiệm vụ khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả, 11 nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Cho thuê và chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài và không có khả năng vươn lên [32, tr 274]. Như vậy, Đại hội VII vẫn chưa đề xuất vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước một cách cụ thể. Đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VII (11-1991), Đảng ta đã đi đến nhất quán chủ trương: "Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp". Cũng trong thời gian đó, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10 (12-1991) đã đưa việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 1991- 1995: "thí điểm việc cổ phần hoá một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển".
Như vậy, mục tiêu, đối tượng, hình thức và các chính sách cổ phần hoá đã được xác định rõ ràng hơn. Đảng và Nhà nước khẳng định cổ phần hoá ở Việt Nam không phải là tư nhân hóa vì cổ phần hoá hướng tới tháo gỡ khó khăn về vốn, về cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước hiện có, không nhằm thu hẹp sở hữu nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Vốn thu được từ bán cổ phần, Nhà nước không được chi dùng cho ngân sách mà để đầu tư tiếp vào nền kinh tế. Nói cách khác, thời gian này cổ phần hoá nặng về mục tiêu thu hút vốn và chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước hơn là thu hẹp sở hữu nhà nước.
Tuy nhiên đối tượng cổ phần hoá trong giai đoạn này vẫn còn khá hẹp, chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi và Nhà nước không cần thiết giữ 100% vốn. Đối tượng mua cổ phiếu chủ yếu là cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, có cho phép cổ đông trong nước ngoài doanh nghiệp nhưng mức độ 12 khuyến khích chưa cao. Nguyên tắc định giá doanh nghiệp nhà nước vẫn còn chung chung, chủ yếu căn cứ vào kiểm kê giao vốn. Người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá được mua cổ phiếu chậm trả 12 tháng.
Tiến trình cổ phần hoá tập trung giao cho Bộ Tài chính, doanh nghiệp sau cổ phần hoá chưa được hưởng ưu đãi đáng kể. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã nêu rõ hơn các hình thức cổ phần hóa phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất - kinh doanh. Để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo nên động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả thì sở hữu nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối. Việc bán cổ phiếu đã tiến thêm một bước, thí điểm việc bán một phần cổ phiếu của một số doanh nghiệp nhà nước cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp.
Trên cơ sở cổ phần hóa, tổ chức Hội đồng quản trị gồm đại diện cho sở hữu nhà nước, sở hữu của công nhân doanh nghiệp và các chủ sở hữu khác. Định thể chế và tiêu chuẩn để Hội đồng quản trị tuyển chọn giám đốc điều hành. Hoàn thiện và áp dụng rộng rãi các hình thức khoán trong doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích và thực hiện từng bước vững chắc, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc đổi mới các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty theo hướng tổ chức các tập đoàn kinh doanh, khắc phục tính chất hành chính, trung gian.
Xoá bỏ dần (có qua làm thí điểm) chế độ bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản và sự phân biệt xí nghiệp trung ương và xí nghiệp địa phương [32, tr 416]. Đại hội VIII (năm 1996), Đảng ta nhận thức lại không phải kinh tế quốc doanh mà là kinh tế nhà nước (trong đó các doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt) mới đóng vai trò chủ đạo. Đại hội đặt ra chủ trương "triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm 13 cho tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá. Bên cạnh những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nước nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phần chi phối" [32, tr 479].
Việc huy động vốn được thực hiện bằng cách "gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp, cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tùy từng trường hợp cụ thể và vốn huy động được phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh" [32, tr 479]. Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII tháng 6 năm 1997 đã xác định lại cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là chủ trương rất quan trọng. Song, cổ phần hoá hay xã hội hóa không đồng nghĩa với phi nhà nước hóa và càng không phải tư hữu hóa. Phương châm cơ bản ở đây vẫn là Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Trong đó Nhà nước có vai trò nòng cốt, thực hiện quản lý nhà nước, tổ chức cho nhân dân và trong điều kiện cụ thể tham gia cùng làm với dân; không làm thay dân, cũng không khoán trắng. Đại hội IX (năm 2001) đã đề ra mục tiêu trong 5 năm (2001 - 2005) phải cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn. Việc bán cổ phần cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp được mở rộng.
Thực hiện việc giao, bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ. Sáp nhập, giải thể, phá sản những doanh nghiệp không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên [32, tr 722]. 14 Trong chương trình cụ thể hóa về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Đảng chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Ba khoá IX đã nêu lên những định hướng quan trọng và chỉ ra những lĩnh vực mà Nhà nước vẫn giữ 100% vốn, những lĩnh vực mà Nhà nước phải giữ cổ phần chi phối hoặc 100% vốn, quy định chi tiết đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và đối với doanh nghiệp hoạt động công ích [37].
Hội nghị Trung ương 9 khóa IX (tháng 1 năm 2004) quyết định tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa mạnh hơn nữa. Về chỉ đạo, Trung ương đã quyết định đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa, kể cả một số công ty và doanh nghiệp lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, cơ khí, hóa chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, đường sông, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm. Giá trị tài sản doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc phải do thị trường quyết định. Việc mua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp.
Diện các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá mở rộng hơn và thực hiện nguyên tắc thị trường trong việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước chỉ giữ cổ phần chi phối đối với các tổng công ty, công ty cổ phần hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực thiết yếu và chỉ giữ 100% vốn nhà nước trong các doanh nghiệp hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng và một số doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích thiết yếu mà 15 chưa cổ phần hoá được. Chuyển các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang hình thức công ty cổ phần. Như vậy, hơn 10 năm qua, quan điểm của Đảng ta về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ngày càng sáng tỏ, ngày càng phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tình hình thực tiễn ở nước ta.
Các quy định của Nhà nƣớc về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc. Những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được thể chế hoá thành các qui phạm pháp luật và thực thi từng bước Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởng về một số chính sách đổi mới cơ chế hạch toán kinh doanh trong các xí nghiệp quốc doanh, ý tưởng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã được đưa ra. Quyết định nêu rõ: "Cần thí điểm tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và giao cho Bộ Tài chính chủ trì". Tuy nhiên do quan điểm về cổ phần hoá lúc này chưa định hình rõ ràng nên ý tưởng của những người đề ra chính sách mới chỉ dừng ở mức tạo ra một cơ chế để doanh nghiệp nhà nước huy động vốn là chính.