CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE CO PHAN HÓA DOANH NGHIỆP CÓ VÓN NHÀ NƯỚC 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp có vẫn nhà nước Tại Khoản 8, Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 quy định doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Theo Khoản 5, Điều 4 Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp quy định: “Vốn của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác là vốn Nhà nước đầu tư tại công ty cô phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do cơ quan đại diện chủ sở hữu làm chủ sở hữu phần vốn góp”. - Về doanh nghiệp có vốn nhà nước: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại Doanh nghiệp 2014 thì: “1. Đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 2.
Đầu tư bố sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đang hoạt động. Dau tư bố sung vốn nhà nước để tiếp tục duy trì tỷ lệ cỗ phần, vốn góp của Nhà nước tại công ty cô phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Đầu tư vốn nhà nước để mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp. Khoản 8, Điều 3 Luật số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp quy định: “Vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”.
Như vậy, doanh nghiệp có vốn nhà nước là doanh nghiệp mà ở đó nhà nước là một chủ đầu tư, một cổ đông nắm giữ phần vốn góp từ 0% đến 100% vốn điều lệ. Nhà nước có thể là chủ sở hữu duy nhất hoặc đồng sở hữu đối với các tô chức, cá nhân khác. Khái niệm "Doanh nghiệp có vốn nhà nước" sẽ bao hàm và rộng hơn khái niệm "Doanh nghiệp nhà nước". Doanh nghiệp có vốn nhà nước là những doanh nghiệp mà chính phủ hoặc các tổ chức, cơ quan chính trị có vốn góp trong đó.
Vốn nhà nước có thê đến từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: - Ngân sách nhà nước - Quỹ đầu tư phát triển - Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp - Vốn tín dụng cho Chính phủ bảo lãnh - Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước - Vốn khác được Nhà nước đầu tư Quyền hạn và nghĩa vụ của Nhà nước với doanh nghiệp có vốn nhà nước có thê thay đổi tùy theo tỷ lệ vốn góp của Nhà nước trong doanh nghiệp và cơ cau quan ly. Thường thì Nhà nước sẽ tham gia vào quản lý và quyết định chiến lược hoạt động của doanh nghiệp để đảm bảo rằng nó đáp ứng mục tiêu và lợi ích của quốc gia và xã hội.Doanh nghiệp có vốn nhà nước là một loại hình kinh doanh thuộc sở hữu và quản lý của nhà nước. Khái niệm này áp dụng cho các tổ chức kinh doanh hoặc công ty mà chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ sở hữu hoặc kiểm soát một phần hoặc toàn bộ vốn và quyền quản lý. Doanh nghiệp có vốn nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thúc đây phát triển kinh tế và xã hội trong nhiều quốc gia và có thể có nhiều hình thức và cơ cầu khác nhau dựa trên quy định và mục tiêu cụ thể của từng quốc gia.
Khái niệm cỗ phần hóa các doanh nghiệp có vẫn nhà nước Nhìn chung, có thể coi cô phần hóa là quá trình biến doanh nghiệp từ sở hữu bởi một chủ sở hữu thành sở hữu chung của nhiều người thông qua việc chuyền một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho nhiều người thông qua việc bán cô phần. Quá trình này gọi là cỗ phần hóa doanh nghiệp. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là quá trình Nhà nước sẽ bán cô phần của các doanh nghiệp Nhà nước mà mình nắm giữ đề thu tiền từ các cổ đông mua lại số phần cô phần đó. Cổ đông mua số cô phần này từ các công ty cổ phần hóa được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật như quyền sở hữu, định đoạt một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh hay quan trọng nhất là được hưởng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành các nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
Cé phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một quá trình quan trọng trong việc thay đôi hình thức sở hữu của doanh nghiệp từ Nhà nước sở hữu 100% sang sở hữu chung của nhiều người thông qua việc bán cô phần, với mục tiêu tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn và tăng cường hiệu quả quản lý. Như vậy, cô phần hóa có thể áp dụng cho cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước. Đối tượng của cổ phần hóa doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của các tổng công ty nhà nước, và công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con. Theo “Phạm Bích Chỉ (2005), Nguyên lý Kế toán ”, CPH DN có vỗn ÑNN còn được định nghĩa là quá trình chuyên đổi sở hữu từ DN mà Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở lên sang DN đa sở hữu, trong đó có sở hữu của người 10 lao động trong DN và sở hữu của các tổ chức, cá nhân khác, hoạt động dưới hình thức CTCP.
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 126/2017/NĐ-CP, cỗ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là việc thực hiện chuyền đổi các doanh nghiệp thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định 126/2017/NĐ-CP thành công ty cổ phần theo quy định pháp luật. Hiểu theo nghĩa rộng, Cổ phân hóa các doanh nghiệp có vẫn nhà nước là quá trình Nhà nước bán phần vốn của mình cho các chủ đầu tư khác. Quá trình này diễn ra sau khi cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục diễn ra cho tới khi hết vốn nhà nước. Quá trình CPH DN có vốn Nhà nước có thể diễn ra theo các hình thức khác nhau, tùy thuộc vào quy định của pháp luật và quyết định của chính phủ.
Nó có thể bao gồm việc phát hành cô phiếu mới và bán cho các cô đông khác, hoặc có thể chuyển nhượng một phần tài sản của doanh nghiệp cho các tô chức hoặc cá nhân khác để tạo ra một cổ phần hóa đúng với nên thị trường và mục tiêu của quá trình cổ phần hóa. Mục tiêu của CPH DN có vốn Nhà nước thường là tạo điều kiện cho sự tham gia của các chủ sở hữu khác, tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn và tăng cường quản lý hiệu quả trong doanh nghiệp. Các cô đông khác sau quá trình cổ phần hóa có thê trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp theo tỷ lệ cô phần mà họ sở hữu. Điều này thúc đầy tính cạnh tranh, tăng cường quản lý, và thúc đây phát triển kinh tế.
Quá trình cổ phần hóa DN có vốn nhà nước không chỉ giới hạn ở việc bán một phần cô phần lớn hoặc nhỏ của doanh nghiệp, mà còn có thể bao gồm: Cổ phần hóa một phần của doanh nghiệp: Công ty có thể bán một phần cô phần cho các nhà đầu tư tư nhân hoặc mở bán cô phiếu công khai trên thị trường chứng khoán. 11 Chuyền đổi hoàn toàn công ty có vốn nhà nước sang tư nhân: Đây là quá trình cổ phần hóa DN có vốn nhà nước hoàn toàn, trong đó tat cả hoặc hầu hết cô phần của doanh nghiệp được chuyên đổi từ sở hữu của nhà nước sang sở hữu của tư nhân hoặc các nhà đầu tư tư nhân. Điều chỉnh tổ chức và quản lý: Công ty có thể tiến hành cải tổ tô chức và quản lý đề tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và thu hút sự quan tâm từ các nhà đầu tư tư nhân. Mở rộng khái niệm cỗ phần hóa đến việc hoàn toàn chuyển đổi sở hữu từ nhà nước sang tư nhân có thể mang lại nhiều lợi ích.
Nó có thể thúc đây sự cạnh tranh và hiệu quả trong quản lý, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp phát triển, và thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, việc thực hiện cổ phần hóa toàn diện cần được xem xét kỹ lưỡng, bởi vì nó có thê ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp, từ quản lý đến quyền lợi của người lao động và tác động đến nền kinh tế và xã hội. Cổ phần hóa doanh nghiệp có vốn nhà nước có nhiều mục tiêu, như tạo điều kiện cho sự tham gia của các chủ sở hữu khác, tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn và tăng cường quản lý hiệu quả trong doanh nghiệp. CPH doanh nghiệp có vốn nhà nước giúp tạo cơ hội cho những người muốn đầu tư vào doanh nghiệp, giúp Nhà nước thu tiền từ việc bán cổ phần của các doanh nghiệp Nhà nước mà họ nắm giữ, thúc đầy tính cạnh tranh và giúp nâng cao hiệu suất và quản lý trong doanh nghiệp, do có sự tham gia của các cổ đông khác nhau trong quá trình quản lý và điều hành doanh nghiệp.
Khái niệm về công ty cỗ phần Loại hình CTCP ra đời từ cuối thế kỷ XVI ở một số nước Châu âu, đến nay đã có lịch sử phát triển mấy trăm năm. CTCP là sự hình thành một kiểu tổ chức DN trong nền KTTT. Nó ra đời không thuộc ý muốn chủ quan của bất cứ 12 lực lượng nào mà là một tiến trình kinh tế khách quan, do đòi hỏi của xã hội hóa lực lượng sản xuất trong KTTT, là kết quả tất yêu của quá trình tập trung tư bản, diễn ra một cách mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và sự tự do cạnh tranh dưới Chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, trở thành một loại hình tổ chức sản xuất phố biến ở hầu hết các nước trên thế giới.
Sự ra đời của CTCP trong nền KTTT diễn ra như một tất yêu khách quan.