Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở TP.HCM đến năm 2020 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Luận văn thạc sĩ phân tích quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP.HCM, đánh giá tác động và đề xuất giải pháp đến năm 2020.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2015

85
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1. Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của doanh nghiệp nhà nước

1.2. Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước

1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước

1.4. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và sự cần thiết phải đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

1.5. Quan niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.6. Bản chất cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.7. Đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.8. Các hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

1.9. Những nội dung chủ yếu trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

1.10. Sự cần thiết phải đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

1.11. Kinh nghiệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới

1.11.1. Kinh nghiệm cuả Trung Quốc

1.11.2. Một số nước khác

1.12. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới

1.13. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 1992-2015

2.1. Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Tổng quan về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của cả nước

2.3. Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh

2.4. Tình hình cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

2.5.1. Nhân tố chủ quan

2.5.2. Nhân tố khách quan

2.6. Đánh giá việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

2.6.1. Mặt đạt được của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

2.6.2. Mặt hạn chế, tồn tại chủ yếu của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

2.7. Nguyên nhân của mặt đạt được, mặt hạn chế, tồn tại của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐẨY MẠNH CỔ PHẦN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020

3.1. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020

3.2. Quan điểm, mục tiêu cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của cả nước nói chung, ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

3.3. Nhiệm vụ cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của cả nước nói chung, ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

3.4. Những giải pháp cơ bản đẩy mạnh cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020

3.4.1. Tiếp tục hoàn thiện chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

3.4.2. Hoàn thiện việc xác định giá trị doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa

3.4.3. Giải quyết nợ của doanh nghiệp trước cổ phần hóa

3.4.4. Có chính sách quan tâm hỗ trợ công ty trong và sau khi cổ phần hóa

3.5. Kết luận chương 3

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP.HCM đã trở thành một chủ đề nóng trong những năm gần đây. Đến năm 2020, quá trình này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của thành phố. Cổ phần hóa được xem là một giải pháp quan trọng trong việc tái cấu trúc nền kinh tế, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện cổ phần hóa cũng gặp phải nhiều thách thức và vấn đề cần giải quyết.

1.1. Khái niệm và vai trò của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ nhà nước sang tư nhân thông qua việc phát hành cổ phiếu. Vai trò của cổ phần hóa không chỉ giúp tăng cường hiệu quả quản lý mà còn tạo ra nguồn vốn mới cho doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.

1.2. Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP.HCM

Từ năm 1992 đến 2015, TP.HCM đã thực hiện nhiều đợt cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, tiến độ cổ phần hóa vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra. Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc xác định giá trị và thu hút nhà đầu tư.

II. Thách thức trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP

Mặc dù cổ phần hóa mang lại nhiều lợi ích, nhưng quá trình này cũng đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu minh bạch trong quy trình, sự phản đối từ các bên liên quan, và khó khăn trong việc định giá doanh nghiệp là những rào cản lớn.

2.1. Thiếu minh bạch trong quy trình cổ phần hóa

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu minh bạch trong quy trình cổ phần hóa. Điều này dẫn đến sự nghi ngờ từ phía nhà đầu tư và làm giảm tính hấp dẫn của các doanh nghiệp nhà nước.

2.2. Sự phản đối từ các bên liên quan

Nhiều nhân viên và lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước lo ngại rằng cổ phần hóa sẽ dẫn đến việc mất việc làm và giảm quyền lợi. Điều này tạo ra sự phản đối mạnh mẽ và cản trở quá trình cổ phần hóa.

III. Phương pháp đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP

Để đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc hoàn thiện chính sách, cải thiện quy trình định giá và tăng cường hỗ trợ cho doanh nghiệp là những giải pháp cần thiết.

3.1. Hoàn thiện chính sách cổ phần hóa

Cần có những chính sách rõ ràng và minh bạch để hướng dẫn quá trình cổ phần hóa. Điều này sẽ giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

3.2. Cải thiện quy trình định giá doanh nghiệp

Quy trình định giá doanh nghiệp cần được cải thiện để đảm bảo tính chính xác và công bằng. Việc này sẽ giúp thu hút nhiều nhà đầu tư hơn và tăng cường hiệu quả cổ phần hóa.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về cổ phần hóa tại TP

Nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP.HCM đã chỉ ra rằng, việc thực hiện cổ phần hóa không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn tạo ra nhiều cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, những doanh nghiệp đã cổ phần hóa thường có hiệu suất cao hơn và khả năng cạnh tranh tốt hơn.

4.1. Kết quả đạt được từ cổ phần hóa

Nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, từ việc tăng trưởng doanh thu đến cải thiện chất lượng sản phẩm. Điều này chứng tỏ rằng cổ phần hóa là một bước đi đúng đắn.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các doanh nghiệp thành công

Các doanh nghiệp thành công trong quá trình cổ phần hóa thường có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chiến lược rõ ràng. Họ đã biết cách thu hút nhà đầu tư và tạo ra giá trị cho cổ đông.

V. Kết luận và tương lai của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP.HCM đến năm 2020 đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Tương lai của cổ phần hóa phụ thuộc vào việc cải thiện chính sách và quy trình thực hiện. Cần có sự đồng thuận từ các bên liên quan để đảm bảo quá trình này diễn ra suôn sẻ.

5.1. Tương lai của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Tương lai của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại TP.HCM sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi trong môi trường kinh doanh và sự hỗ trợ từ chính phủ.

5.2. Đề xuất giải pháp cho quá trình cổ phần hóa

Cần có những giải pháp cụ thể để thúc đẩy cổ phần hóa, bao gồm việc tăng cường đào tạo cho nhân viên, cải thiện quy trình và chính sách, và tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố hồ chí minh đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước đã tồn tại phổ biến từ lâu trong nền kinh tế nước ta. Tuy vậy, mãi tới năm 1995, mới có những nỗ lực đầu tiên để “công ty hóa” về mặt ý niệm đối với doanh nghiệp nhà nước.

Cụ thể là, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Cũng theo luật này, doanh nghiệp nhà nước nước tồn tại dưới các hình thức: Doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty. Và theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phấn góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. So sánh khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” theo Luật Doanh nghiệp 1995, với khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp 2003 thì có một số thay đổi như sau: (i) Có nội dung rộng hơn, bao gồm không chỉ doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước, mà cả doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần hay có phần góp vốn chi phối; (ii) Loại hình doanh nghiệp cũng đa dạng hơn, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; (iii) Không xác định mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp nhà nước là thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao; (iv) Và cuối cùng là, không còn khái niệm doanh nghiệp công ích.

Tuy vậy, có thể nói, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước cho đến nay vẫn chưa thực sự là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần với đầy đủ những thuộc tính của chúng. Trình bày trên đây cho thấy trong giai đoạn trước tháng 07/2006, khái niệm “doanh nghiệp” được định nghĩa khác nhau trong các văn bản pháp luật khác nhau, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 và được áp dụng phân biệt theo thành phần kinh tế. Trong khi doanh nghiệp do tư nhân trong nước sở hữu lấy mục tiêu sinh lợi làm tiêu chí đặc trưng hàng đầu, doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nước ngoài và khu vực kinh tế nhà nước chủ yếu dựa vào tiêu chí sở hữu. Thậm chí, lợi nhuận không được coi là mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp nhà nước.

Về loại hình doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân trong nước được lựa chọn cả bốn loại là đặc trưng phổ biến trong kinh tế thị trường; còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có duy nhất công ty trách nhiệm hữu hạn. Loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước nhìn chung không tương thích với các loại hình doanh nghiệp của kinh tế thị trường. Sau năm 2003, doanh nghiệp nhà nước mới bắt đầu sử dụng loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Bản chất và nội dung của cùng một loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nhau là không giống nhau.

Ví dụ, việc các bên hay các thành viên phải chịu rủi ro tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là khá xa lạ với đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung và công ty trách nhiệm hữu hạn của khu vực kinh tế tư nhân trong nước nói riêng. Các loại hình khác của doanh nghiệp nhà nước như tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập. không được định nghĩa rõ về bản chất và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Vào những năm 2005-2006, áp lực và yêu cầu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ngày càng gia tăng; và việc gia nhập WTO cũng đã ngày càng trở nên bức thiết.

Một khuôn khổ pháp lý thống nhất về đầu tư và thương mại, bình đẳng, không phân biệt đối xử và phù hợp với các nguyên tắc thương mại quốc tế là một trong những điều kiện không thể thiếu để nước ta có thể gia nhập WTO. Vì vậy, hàng loạt luật có liên quan đã phải được ban hành mới hoặc bổ sung, sửa đổi; trong số đó có các luật về đầu tư và doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp 2005 đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Nó có hiệu lực từ ngày 01/07/2006; thay thế Luật Doanh nghiệp 2000, cùng với nó là Luật Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và các quy định về doanh nghiệp của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Như vậy, từ tháng 07/2006, lần đầu tiên chúng ta có một Luật Doanh nghiệp duy nhất, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu; người trong nước và người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do luật quy định: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Cũng từ thời điểm đó, xét về mặt pháp lý, không còn hiện tượng “đồng sàng, dị mộng” khi nói và viết về doanh nghiệp. Khái niệm “doanh nghiệp”, bản chất và thuộc tính của các loại hình doanh nghiệp đã được quy định, được hiểu và áp dụng một cách thống nhất. Cụ thể, “doanh nghiệp” được xác định là “tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

Như vậy, khái niệm “doanh nghiệp” ở nước ta đã không còn phân chia và phân biệt theo thành phần kinh tế. Cũng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu; là dấu hiệu đặc trưng để phân biết với các tổ chức kinh tế khác không phải là doanh nghiệp. Bản chất và nội dung của khái niệm doanh nghiệp đã tương thích với khái niệm tương tự được sử dụng phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường. Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước (SOE) vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành đã làm rõ khái niệm SOE.

Theo đó, SOE là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thay cho khái niệm: “SOE là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” như hiểu hiện nay. Với khái niệm mới, các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan chỉ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước Vai trò và vị trí của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, trước hết, được xác định và định hướng bởi chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế Nhà nước và sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là chủ trương nhất quán của Đảng tại các kỳ đại hội.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, vai trò và vị trí của doanh nghiệp nhà nước chủ yếu vẫn theo định hướng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá IX ban hành năm 2001 là “Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế”. Vị trí của doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá IX được xác định là “tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu; không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các ngành, lĩnh vực sản phẩm của nền kinh tế”. Đại hội X có sự điều chỉnh nhất định về vị trí của doanh nghiệp nhà nước, đó là “xoá bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước” và “tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích”. Đại hội XI chỉ khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước mà không khẳng định rõ ràng, trực tiếp và cụ thể về vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trong nền kinh tế như Hội nghị Trung ương 3 khoá IX và các văn kiện khác trước đây.

Trên thực tế, khu vực doanh nghiệp nhà nước đang được sắp xếp, đổi mới theo hướng thu hẹp dần, giảm bớt ở nhiều vị trí không cần đến sự hiện diện doanh nghiệp nhà nước, kể cả về diện hoạt động (tức phạm vi ngành, lĩnh vực có doanh nghiệp nhà nước) và mật độ hiện diện của doanh nghiệp nhà nước (tức số lượng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 doanh nghiệp nhà nước cùng kinh doanh trong ngành, lĩnh vực). Cụ thể như sau: Số ngành, lĩnh vực Nhà nước giữ 100% vốn đã giảm từ 43 ngành, lĩnh vực (theo Quyết định 58/2002/QĐ-TTg năm 2002) xuống 20 ngành, lĩnh vực (theo Quyết định 14/2011/QĐ-TTg năm 2011). Số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước từ 12.300 doanh nghiệp (năm 1992) giảm xuống 5.655 doanh nghiệp (năm 2001) và 1309 doanh nghiệp vào cuối năm 2011. Số lượng doanh nghiệp nhà nước trong nhiều ngành, lĩnh vực đã giảm đi rất nhiều so với trước đây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ