CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE CO PHAN HÓA DOANH NGHIEP NHA NUOC 1. Khái niệm cỗ phan hóa Trong nền kinh tế kế hàng hóa tập trung của Việt Nam trước đây, DNNN giữ vai trò chủ yếu trong nền kinh tế, chi phối mọi lĩnh vực then chốt và sản phâm thiết yếu của nền kinh tế. Vai trò đó vẫn tiếp tục được thể hiện trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua quá trình tồn tại và phát triển của minh, DNNN đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các DNNN trong hoạt động sản xuất kinh doanh bộc lộ một số hạn chế, nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tiêu cực và lãng phí lớn, tính cạnh tranh thấp, nguồn lực con người chưa được chú trọng, phát huy một cách hiệu quả; vốn, tài sản của Nhà nước không có người làm chủ trực tiếp nên chưa làm rõ được trách nhiệm rõ ràng đối với việc sử dụng hiệu quả đối với vấn đề này; cán bộ công nhân viên chức làm việc không có động lực thường xuyên và bền vững đề gắn bó thân thiết với sự phát triển của doanh nghiệp;. Có thể nói, kết quả sản xuất kinh doanh của DNNN chưa tương xứng với các nguồn lực mà Nhà nước đã hỗ trợ, đầu tư, tiềm năng thực tế. Chính từ tình hình hoạt động phức tạp, kém hiệu quả của DNNN đặt ra cho các nhà quản lý, nhà kinh tế, nhà khoa học những câu hỏi nóng bỏng, cấp bách nhưng rat hóc búa: “Stra giá? Sửa lương? Sửa tiền? Sửa cơ chế quản lý? Hay sửa bản thân mô hình kinh tế? ”. Việc tìm ra một mô hình tổ chức mới nhăm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có sức cạnh tranh cao, đồng thời nâng cao đời sống của người lao động,.
là ngày càng cấp thiét-nhat là trong điều kiện hội nhập hội nhập kinh tế mạnh mẽ hiện nay. Đây là cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp nhưng cũng day các doanh nghiệp vào một cuộc chơi đầy khắc nghiệt với quy luật “mạnh thắng yếu thua” nếu không được chuan bị kĩ càng. CPH là một giải pháp quan trọng để tạo ra sự chuyển biến cơ bản cho các DNNN trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời thu hút thêm vốn đầu tư, tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội được thực sự tham gia vào làm chủ doanh nghiệp. Từ trật tự Nhà nước quản lý toàn diện, nền kinh tế Việt Nam sẽ bước sang thời kỳ Nhà nước và Nhân dân cùng nhau thực hiên và cudi cùng là đạt được mục tiêu “đân lam, nhà nước hỗ trợ”.
CPH là chủ trương đã được thực tế chứng minh là rất đúng đắn, có tác dụng rõ rệt nâng cao hiệu quả DNNN.Chủ trương này đã được quan tâm hoàn thiện, luật hóa và gần đây tập trung chỉ đạo đạt kết quả khá hơn. Song việc thực hiện vẫn còn chậm và còn khó khăn,vướng mac cả trong quá trình tiễn hành lẫn sau CPH. Đây là vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến lợi ích của nhiều đối tượng, nhất là những người lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp; do đó việc thực hiện phụ thuộc rất lớn vào ý thức, đồng tình hay không của những người này. Quy trình CPH có nhiều khâu phức tạp, nhất là xác định giá trị doanh nghiệp, xử lý những vấn đề tồn đọng, cần phải chỉ đạo tính toán chặt ché,néu không sé sơ hở, thất thoát tái san nhà nước.
Dé có thé tim ra phương thức bổ khuyết cho giải pháp hiện hành,cần phải năm vững mục tiêu, yêu cầu và nội dung thực chất của CPH. Theo Nghị quyết TW 3 (khóa IX) của Đảng và Nghị định số 187/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty Nha nước thành CTCP, ngoài việc huy động thêm vốn của xã hội để tăng cường năng lực tài chính, thì mục tiêu của CPH là nhăm sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của các DNNN và nên kinh tế nói chung, thông qua việc thay đổi cơ cấu sở hữu, tạo ra động lực mới và chuyển DNNN sang phương thức quản lý mới năng động, chặt chẽ hơn. 10 Nhìn bề ngoài, CPH là quá trình: xác định lại mục tiêu, phương hướng kinh doanh, nhu cầu vốn điều lệ và chia ra thành cổ phần, đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp, quyết định mức vốn Nhà nước cần năm giữ và rao bán rộng rãi phan còn lại. Qua đó làm thay đổi cơ cầu sở hữu, huy động thêm vốn, xác lập cụ thê những người tham gia làm chủ, được chia lợi nhuận và chuyên DNNN thành CTCP, thuộc sở hữu của tập thé cổ đông và chuyền sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Song dé hiểu rõ thực chất của CPH, cần thấy rang trong CTCP, trên cơ sở vốn điều lệ được chia ra thành nhiều phần, thì quyền lợi và trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng được phân ra thành những đơn vị và có cơ cau xác định tương ứng với cơ cau sở hữu. Do đó, sỡ dĩ CPH có thé nâng cao hiệu quả của các DNNN là do qua CPH, cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp được thay đôi, dẫn tới cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng thay đổi theo; từ đó tạo ra một cơ cau động lực có chủ thể rõ ràng và hợp lực mới mạnh mẽ hơn; đồng thời, chuyển doanh nghiệp sang vận hành theo cơ chế quản lý mới, tự chủ, năng động hơn, nhưng có sự giám sát rộng rãi và chặt chẽ hơn. Cho nên, thực chất CPH nói chung chính là giải pháp tài chính và tổ chức, dựa trên chế độ cô phần, nhằm đổi mới cơ cấu và cơ chế phân chia quyền lợi và trách nhiệm gắn chặt với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn CPH theo phương thức hiện hành là giải pháp nhằm làm thay đổi cơ cấu sở hữu, dẫn tới thay đôi cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm từ chỗ chi có nhà nước nắm quyên và chịu trách nhiệm chuyên sang chia sẻ kết quả kinh doanh, cả quyền lợi và trách nhiệm, lợi nhuận và rủi ro cho những người tham gia góp vốn, qua đó tạo ra động lực, trách nhiệm và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp.
11 CPH DNNN được hiểu là quá trình chuyên đổi toàn bộ hoặc một phan vốn, tài sản và quyền quản lý doanh nghiệp nhà nước sang thành phần kinh tế khác dưới dạng CTCP. Những DNNN thuộc đối tượng thực hiện chuyền đổi thành CTCP gồm [10, Điều 2, Khoản 2 - 3]: Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước bao gồm: (1) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nam giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập doan kinh tế, Công ty mẹ của Tổng công ty nhà nước (kê cả Ngân hàng Thuong mại nhà nước), Công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con. (2) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nước nam giữ 100% vốn điều lệ. (3) Doanh nghiệp do Nhà nước năm giữ 100% vốn điều lệ chưa chuyền thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Thứ hai, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ Có thê nói, CPH là một giải pháp quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc day quá trình tích tụ và tập trung von nhằm hiện đại hóa nền kinh tế. * Uu điểm của việc chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phan Một là, do quan hệ sở hữu trong CTCP là thuộc về các cổ đông nên quy mô sản xuất có khả năng được mở rộng to lớn và nhanh chóng, mà không cá nhân riêng lẻ nào có thé thực hiện được. Hai là, kiêu tích tụ vốn dựa vào cá nhân riêng lẻ diễn ra vô cùng chậm chap; còn tập trung tích tụ theo kiểu CTCP bang cách thu hút các nguồn vốn của đông đảo các nhà dau tư và nguồn tiết kiệm từ quảng đại của quan chúng, lại cho phép tăng rất nhanh. 12 Ba là, vốn huy động dưới hình thức CTCP khác với vốn cho vay trên cơ sở tín dụng vì nó không cho vay hưởng lãi mà là kiểu đầu tư chịu mạo hiểm và rủi ro.
Vì vậy, các CTCP có thé tồn tại được ngay cả trong trường hợp chúng chưa đem lại lợi tức (lợi nhuận của CTCP mang hình thái lợi tức). Bốn là, CTCP có thời gian tồn tại là vô hạn (nếu không có quy định thời hạn hoạt động và loại trừ trường hợp bị phá sản hoặc giải thé) vì vốn góp cô phần có sự độc lập nhất định với cổ đông. Năm là, người bỏ tiền ra mua cô phần của CTCP không có quyền rút vốn mà chỉ có quyền sở hữu cổ phiếu. Các cổ phiếu có thé được tự do mua bán trên thị trường và được quyền thừa kế.
Vì vậy, khác với loại công ty khác, vốn cô phan đã được góp tổn tại với quá trình sống của công ty, còn chủ sở hữu có thể thay đổi. Trong CTCP, chức năng của vốn tách rời quyền sở hữu của nó cho phép sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp. Giám đốc kinh doanh trở thành một nghề không cần phải mang chức vụ hành chính. CTCP tạo một cơ chế phân bồ rủi ro đặc thù: Chế độ TNHH đối với các khoản nợ trong mức vốn của công ty là san sẻ rủi ro cho các chủ nợ khi công ty bị phá sản.
Vốn tự có của công ty huy động thông qua phát hành cô phiếu là vốn của nhiều cổ đông khác nhau, do đó rủi ro được san sẻ. Chính vì cách thức huy động vốn của công ty đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cô phiếu, trái phiếu của các công ty nhiều ngành khác nhau dé giảm bớt ton thất khi bị phá sản so với đầu tư tài chính vào một hay một số công ty của cùng một ngành. Việc ra đời của các CTCP với việc phát hành chứng khoán và cùng với việc chuyển nhượng, mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán ra đời.