CHƯƠNG I GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Khu vực kinh tế Nhà nước luôn chiếm vị trí chủ đạo, hoạt động trong lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế nước ta. Trong điều kiện hiện nay, quá trình mở cửa và hội nhập với các nền kinh tế của các nước trên thế giới đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với nền kinh tế của nước ta nói chung và đối với khu vực kinh tế nhà nước nói riêng. Xu thế hội nhập này tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, song nó cũng đặt các doanh nghiệp vào một cuộc chơi với quy luật “mạnh thắng, yếu thua”.
Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhà nước vốn được biết đến là thành phần kinh tế có cơ chế quản lý thiếu chặt chẽ; trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu; thiếu năng động trong kinh doanh; bộ máy quản lý cồng kềnh. từ nhiều năm nay. Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước nhằm tăng khả năng cạnh tranh và hoạt động có hiệu quả hơn, mà Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ ba (Khóa IX) đã khẳng định: “Đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”. Thực hiện chủ trương đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, tỉnh An Giang đã tiến hành thí điểm và triển khai cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước từ năm 1998.
Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng tỉnh An Giang được đánh giá là có tiến trình cổ phần hóa đạt yêu cầu so với kế hoạch đề ra. Qua khảo sát thực tế, hầu hết các doanh nghiệp đều có mức tăng trưởng khá về sản xuất, kinh doanh, lợi nhuận, nộp ngân sách. Điều này cho thấy việc sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh An Giang là giải pháp đúng đắn và rất cần thiết đối với tiến trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương. Nhằm hiểu hơn về hiệu quả của chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã đem lại ở tỉnh An Giang, tôi đã chọn đề tài “HIỆU QUẢ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN XÁNG CÁT AN GIANG” để nghiên cứu thực tập và làm luận văn tốt nghiệp.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Qua việc chọn đề tài này để nghiên cứu, tôi muốn đánh giá hiệu quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua, mà ở đây là trường hợp Công ty Cổ phần Xáng cát An Giang. Từ đó, đề ra những giải pháp góp phần đẩy mạnh hiệu quả hoạt động ở Công ty, cũng như công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới ở tỉnh An Giang. Để đạt được mục đích của đề tài đã đề ra, nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung vào các vấn đề sau: Tìm hiểu thực trạng của doanh nghiệp trước khi tiến hành cổ phần hoá. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của Công ty sau khi cổ phần hóa.
Đánh giá hiệu quả của chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại Công ty Cổ phần Xáng cát An Giang. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp thu thập dữ liệu Để có được dữ liệu sơ cấp phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã trực tiếp đến phỏng vấn Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch, Phòng Hành chính và Phòng Kế toán của Công ty Cổ phần Xáng cát An Giang. Ngoài những dữ liệu sơ cấp thu thập được, tôi còn sử dụng các dữ liệu thứ cấp sau: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa IX.
Nghị định số 64/2002/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần. Các bài viết về Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên các báo và tạp chí trong nước. Bảng cân đối kế toán, Bảng kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Xáng cát An Giang. Phương pháp phân tích dữ liệu Do đề tài có phạm vi nghiên cứu trong một lĩnh vực mới nên việc phân tích dữ liệu được thực hiện với nhiều phương pháp: Phương pháp so sánh được sử dụng trong phân tích kết quả kinh doanh và phân tích tỷ số tài chính thông qua việc so sánh các chỉ số của năm này với năm khác.
Từ đó, nhận thấy được xu hướng biến động về tình hình kinh doanh cũng như tình hình tài chính của Công ty là tốt hay xấu qua các năm, nhằm đề ra những giải pháp thích hợp trong kỳ kinh doanh tiếp theo. Phương pháp tỷ lệ thường được sử dụng kết hợp với phương pháp so sánh trong quá trình phân tích nhằm thấy được sự thay đổi về tỷ lệ phần trăm của các chỉ số qua các năm, giúp ta dễ dàng nhận ra được hiệu quả từng nội dung cần nghiên cứu. Phương pháp chuyên gia cùng với việc phân tích các dữ liệu thu thập được, tôi còn tham khảo ý kiến của các chuyên gia về cổ phần hóa để đưa ra các nhận định, rút ra kết luận có tính chính xác hơn. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi và lĩnh vực nghiên cứu mới nên tôi chỉ tập trung vào việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Xáng cát An Giang – doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá đầu tiên trong tỉnh – để rút ra tính hiệu quả của chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Để có được cái nhìn bao quát, tôi đã thu thập số liệu của Công ty từ khi được thành lập (năm 1998) cho đến nay để tiến hành nghiên cứu. CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. SƠ LƯỢC VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 2. Một số khái niệm cơ bản 2.
Công ty cổ phần (Điều 51, Luật Doanh nghiệp) ¾ Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 55 và khoản 1 Điều 58 của Luật này; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. ¾ Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán. ¾ Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Cổ đông: là một pháp nhân hoặc thể nhân chủ sở hữu phần vốn cổ phần của công ty cổ phần.
Cổ phần: là phần vốn góp tối thiểu mà mỗi cổ đông tham gia đầu tư vào công ty cổ phần. Đối với Việt Nam, giá trị của một cổ phần là 100. Cổ phiếu: là giấy chứng nhận cổ phần. Được phát hành dưới hai hình thức: chứng chỉ và bút toán ghi sổ.
Nó xác nhận quyền hợp pháp của người có cổ phiếu đối với tài sản và vốn của công ty cổ phần. Trái phiếu: là một hợp đồng vay nợ, được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ thanh toán nợ của nhà phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Cổ tức: là lợi tức của cổ phần, là phần lợi nhuận ròng của công ty phân phối cho cổ đông theo tỷ lệ cổ phiếu sở hữu. Mô hình cổ phần hóa của Việt Nam Quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần là rất phức tạp.
Nó dẫn đến hàng loạt những thay đổi trong doanh nghiệp như: cơ cấu tổ chức, cơ cấu vốn, hình thức sở hữu. Vì vậy, Nhà nước đã đề ra 3 mô hình cổ phần hóa cơ bản sau: Giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu nhằm huy động thêm vốn của xã hội để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp mà Nhà nước cần giữ một tỷ lệ cổ phần nhất định trong doanh nghiệp và doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả, cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Bán bớt phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp và các nhà đầu tư khác để chuyển thành công ty cổ phần.
Hình thức này được áp dụng cho các doanh nghiệp chưa cần huy động thêm vốn, mà chỉ cơ cấu lại quyền sở hữu về vốn và biện pháp quản lý doanh nghiệp. Bán toàn bộ phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, áp dụng cho các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện tuỳ từng hoàn cảnh của mỗi doanh nghiệp mà có thể áp dụng hình thức nào hoặc kết hợp linh hoạt giữa các hình thức trên. Nhưng vấn đề quan trọng là làm sao để người lao động chiếm giữ một tỷ lệ cổ phần nhất định trong doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ phần hoá, tạo điều kiện để người lao động làm chủ thực sự doanh nghiệp, tạo động cơ để họ nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh.
Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới đã diễn ra sôi nổi ngay từ những năm đầu của thập kỷ 80, đặc biệt là ở các nước Châu Âu(1). Điển hình: Ở Anh, từ năm 1979 đến năm 1988, Chính phủ đã bán ra 22,25 tỷ USD cổ phần Nhà nước trong các Ngành: bưu chính viễn thông, đóng tàu, hàng không. Ở Pháp, từ năm 1986 đến năm 1991, Chính phủ đã bán được 66 doanh nghiệp và ngân hàng của Nhà nước với tổng trị giá 275 tỷ Frăng. Ở CHLB Nga, từ năm 1991 đến năm 1996, Chính phủ đã chuyển đổi được 122.000 doanh nghiệp nhà nước.
Gần đây là Trung Quốc với quan điểm “tiến hành chuyển đổi sở hữu từ từ, không nhanh, không chậm và luôn tỉnh táo, thận trọng”, tiến trình CPH đã diễn ra một cách bài bản với nhiều giai đoạn khác nhau từ năm 1978 đến năm 1997, kết quả Chính phủ đã cổ phần hóa được hơn 100.000 doanh nghiệp nhà nước.