Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011- 2015. Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại Agribankchi nhánh Châu Thành An Giang. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng 1. Khái niệm quản trị rủi ro Cụm từ “rủi ro” được các nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhưng nhìn chung có thể chia làm hai quanđiểm. Theo quan điểm truyền thống, “ rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố khác liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”.
Thực tế cho thấy, chúng ta đang sống trong một thế giới mà rủi ro luôn tiềm ẩn và ngày càng tăng theo nhiều hướng khác nhau. Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp, thì rủi ro cho con người ngày càng nhiều và đa dạng hơn. Vì vậy, con người cần quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu rủi ro,nhận dạng rủi ro và tìm các biện pháp quản trị rủi ro, trong quá trình nghiên cứu đó, nhận thức về rủi ro của con người cũng thay đổi, trở nên khoan dung và trung hòa hơn. Mặt khác, theo quan điểm trung hòa cho rằng “rủi ro là sự bất trắc không thể đo lường được”.
Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực, theo nghĩa rủi ro có thể mang đến cho con người những tổn thất, mất mát và nguy hiểm nhưng cũng có thể mang đến cho chúng ta những cơ hội, thời cơ không ngờ. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro, chúng ta không chỉ tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, né tránh những rủi ro thuần túy, hạn chế những thiệt hại do rủi ro gây ra mà còn có thể “lật ngược tình thế”, biến thủ thành thắng, biến thách thức thành những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. Quản trị rủi ro là quá trình theo dõi và kiểm tra việc sử dụng vốn (trong đó chủ yếu là tín dụng và đầu tư) để kịp thời phát hiện và ngăn chặn các rủi ro phát sinh, đồng thời có biện pháp để xử lý rủi ro [3; tr.43] Theo tiêu chuẩn ISO 31000:2011 cho biết,mọi loại hình tổ chức dù lớn hay nhỏ đều phải đối mặt với các yếu tố và ảnh hưởng bên trong và bên ngoài, làm cho tổ chức không chắc chắn đạt được mục tiêu hay không và khi nào sẽ đạt được mục tiêu. Tác động của sự không chắc chắn này lên các mục tiêu chính là “rủi ro”.
- Có nhiều cách phân loại, có thể phân rủi ro thành 3 loại như dưới đây: + Rủi ro từ bên ngoài + Rủi ro nội bộ + Rủi ro tuân thủ Bộ tiêu chuẩn thiết lập các nguyên tắc cần đáp ứng để làm cho hoạt động quản lý rủi ro đạt hiệu quả. Nó khuyến nghị xây dựng, áp dụng và cải tiến liên tục 9 khuôn khổ (framework) với mục đích tích hợp quá trình quản lý rủi ro với toàn bộ quá trình quản trị, chiến lược, hoạch định, quản lý, quy trình báo cáo, chính sách, các giá trị và văn hóa của tổ chức. - Quản lý rủi ro chính là các hoạt động phòng ngừa. - Mục tiêu được xác định theo nguyên tắc SMART (Cụ thể - Đo đếm được – Có thể đạt được – Thực tế - Trong khoảng thời gian xác định) - Kế hoạch được thể hiện bởi nguyên tắc 5W1H (Why – What – Where – When – Who - How) - Quy trình thực hiện được thể hiện bởi vòng PDCA (Plan - Do - Check – Act) để vừa triển khai vừa có quá trình kiểm tra và giám sát.
- Mục tiêu của khóa học được đặt ra là các cán bộ của CMC sẽ dựa trên bộ tiêu chuẩn để xác định được khuôn khổ quản lý rủi ro nhằm xây dựng được sổ tay quản trị rủi ro của CMC, bao gồm việc xây dựng định mức và tiêu chí xác định rủi ro. - Từ sổ tay quản trị rủi ro, từng đơn vị và từng bộ phận sẽ điều chỉnh hoặc bổ sung quy trình quản trị rủi ro vào trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để thực hiện quá trình CA nói trên (Check – kiểm tra, theo dõi; Act – cải tiến liên tục). Hàng năm, bên cạnh việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, chúng ta cũng sẽ xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro. - Tất cả các hoạt động của tổ chức liên quan tới các rủi ro đều cần được quản lý.
Quá trình quản lý rủi ro hỗ trợ cho việc ra quyết định bằng cách tính đến sự không chắc chắn và khả năng xảy ra của các sự kiện hoặc tình huống trong tương lai và tác động của chúng tới mục tiêu. - Đánh giá rủi ro; là một phần trong quản lý rủi ro, đưa ra một quá trình có cấu trúc để xác định cách thức các mục tiêu có thể bị ảnh hưởng.Đây là hoạt động quan trọng nhất trong toàn bộ quy trình và áp dụng được từ mức bộ phận, mức công ty và mức toàn Tập đoàn. Việc đánh giá rủi ro cho biết có nên thực hiện hoạt động hay không, rủi ro có cần xử lý hay không và phương án tối ưu. Phân biệt rủi ro - Dựa theo tính chất.
Rủi ro tĩnh là những rủi ro mà kết quả của nó chỉ có sự xuất hiện tổn thất, chứ không có khả năng sinh lời và không chịu tác động của những thay đổi trong nền kinh tế. Những rủi ro này chỉ liên quan đến các đối tượng như: tài sản, con người, trách nhiệm nhân sự. Rủi ro độnglà những rủi ro liên quan đến sự thay đổi, đặc biệt là những thay đổi trong nền kinh tế.Đó là những thay đổi mà kết quả của nó có thể có lợi nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất. Ví dụ như sự thay đổi trong thị hiếu khách hàng có phù hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp hay không, … 10 - Dựa theo cáchthức Rủi ro thuần túy tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội sinh lợi được.
Nói cách khác, rủi ro thuần túy là những rủi ro mà bản thân nó chỉ có khả năng gây ra những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, như hỏa hoạn, mất cắp, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…và nó làm phát sinh một khoản chi phí (để bù đắp thiệt hại) nên cần có biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế. Rủi ro suy đoán (rủi ro mang tính đầu cơ) là rủi ro mà trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi gắn liền với những nguy cơ gây ra tổn thất, loại rủi ro này là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh và có tính hấp dẫn của nó. Các loại rủi ro thường gặp ở các ngân hàng thương mại Việt Nam Như bất kì một doanh nghiệp hay một tổ chức nào khác, một NHTM thực hiện mục tiêu kiếm tiền của mình và chấp nhận tất cả những rủi ro. Và rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu như là một tất yếu và là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ tác động trực tiếp tới kết quả lợi nhuận, nguy cơ phá sản của các ngân hàng.
Do vậy việc thừa nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và từ đó tìm kiếm nhiều phương pháp chống đỡ, hạn chế các rủi ro là đòi hỏi của sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Qua những nhận định trên ta có thể nhận xét một số điểm về bản chất của rủi ro: Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của một ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định. Khi đề cập đến rủi ro, người ta thường nhắc đến hai yếu tố mang tính đặc trưng của rủi ro là biên độ rủi ro và tần suất xuất hiện rủi ro (số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện/tổng số trường hợp đồng khả năng). Rủi ro là yếu tố khách quan, nên chúng ta không thể loại trừ được hoàn toàn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện và những tác hại mà chúng gây ra.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam được chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. Và trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, rủi ro được chia thành những loại sau: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro giá cả, rủi ro pháp lí, rủi ro chiến lược, rủi ro uy tín, rủi ro tác nghiệp, rủi ro đạo đức,… a. Rủi ro tíndụng Theo định nghĩa của The World Bank, rủi ro tín dụng (credit risk) là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.Đây là thuộc tính vốn có trong hoạt động ngân hàng.Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Theo Phan Thị Cúc (2009), rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH [ 1, tr 143]. 11 Theo quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD, nợ được chia thành các nhóm sau:[15]. a- Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn b-Nhóm 2: Nợ cần chú ý c- Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn d- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ e- Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn a. Đặc điểm của rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng ngân hàng có những đặc điểm như sau: Là loại rủi ro khi phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng cho các khách hàng.Rủi ro phát sinh từ trước, trong và sau khi cho vay một khách hàng.