CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Một số vấn đề cơ bản về giáo dục đại học 1. Khái niệm về giáo dục đại học Có thể nói cụm từ “giáo dục đại học” (higher education) hiện nay vẫn đang còn được hiểu theo nhiều ý kiến trái chiều khác nhau với nhiều sự giải thích cũng như hệ thống tư tưởng không giống nhau.
Trong khuôn khổ một khóa luận, tác giả xin được giới hạn ở việc tìm hiểu những khái niệm mang tính tổng quát nhất dưới góc độ xã hội, các văn bản pháp luật và các tổ chức quốc tế hàng đầu. Quan niệm về GDĐH được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đề xuất từ năm 1968 và được nhiều nước thừa nhận với tên gọi là “giáo dục bậc ba” (tertiary education). Nhưng từ sau Hội nghị thế giới về GDĐH được tổ chức tại trụ sở của UNESCO ở Paris (Pháp) từ ngày 5 - 9/10/1998 đã xuất hiện một quan niệm mới: GDĐH ở thế kỉ XXI là học tập suốt đời và bao gồm “tất cả các loại hình học tập, đào tạo hoặc đào tạo – nghiên cứu ở trình độ sau trung học phổ thông được thực hiện bởi các trường đại học hoặc các cơ sở giáo dục khác được cơ quan thẩm quyền của Nhà nước công nhận như là những định chế GDĐH”. Theo quan điểm này, GDĐH còn được gọi là giáo dục sau trung học bao gồm không chỉ GDĐH truyền thống như đại học, cao đẳng mà còn bao gồm tất cả mọi trình độ học vấn cung cấp cho người đã tốt nghiệp trung học phổ thông.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì GDĐH “là bậc đào tạo trình độ cao đẳng và đại học. Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện trong ba năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp; giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề; có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo. Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo tốt nghiệp phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp, từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng chuyên ngành, giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kĩ năng thực hành về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo.” 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 (sửa đổi năm 2009) quy định GDĐH là một cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo các trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ và tiến sỹ (điều 38) với mục tiêu “đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân đân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (khoản 1, điều 39) Dưới góc độ kinh tế học thì WTO coi giáo dục trong đó có GDĐH là một trong mười hai ngành dịch vụ mang tính thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định GATS. Theo đó, từng bước tự do hóa thương mại dịch vụ này trên cơ sở đàm phán giữa các quốc gia là cần thiết.
Trên phương diện quyền và lợi ích của người học, tồn tại quan điểm GDĐH là phúc lợi xã hội. Nghĩa là mọi người dân đều có quyền được tiếp cận và thực hiện giáo dục như nhau một cách bình đẳng, không phân biệt giàu nghèo và địa vị xã hội. Từ những khái niệm trình bày ở trên, có thể hiểu GDĐH có thể hiểu là một cấp học cao hơn trong cấu trúc giáo dục của một quốc gia. Sau khi hoàn thành, sinh viên sẽ được cấp một tấm bằng của bậc đại học.
Những tấm bằng này được công nhận trên toàn thế giới thể hiện tính chuyên môn cũng như sự đa dạng các kĩ năng của người sở hữu, những thứ mà nhà tuyển dụng đang cần. Giáo dục bổ túc thường bao gồm những sinh viên muốn học thêm để lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ. Đồng thời nó cũng là một loại dịch vụ đặc biệt vừa có tính thị trường vừa có tính phi thị trường. Vai trò của GDĐH 1.
Vai trò của GDĐH trong xã hội Chúng ta thường hiểu về GDĐH bao gồm giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng. Tuy nhiên thực tế cho thấy từ những quan điểm khác nhau, cách hiểu khác nhau về GDĐH cho chúng ta kể ra nhiều vai trò của GDĐH trong xã hội. Nó là hệ thống nuôi dưỡng của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực cần thiết phục vụ cho mọi công việc. Có thể nói, hệ thống GDĐH và lực lượng lao động là hai yếu tố quyết định đến việc phát triển khoa học công nghệ cũng như kinh tế.
Không những thế GDĐH cho phép con người học tập cũng như 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cập nhật các kiến thức và kỹ năng theo nhu cầu xã hội. Ủy ban Kothari (1996) nêu ra những vai trò sau đây của GDĐH: Thứ nhất: GDĐH giúp tìm kiếm và trau dồi tri thức mới Có thể nói đây là một quá trình tìm kiếm và trau dồi không ngừng nghỉ và không chùn bước. Trong quá trình tìm kiếm chân lý, thường xuyên xem xét lại những ý nghĩa của những kiến thức và niềm tin cũ dưới sự ảnh hưởng của những nhu cầu mới và khám phá mới. Thêm vào đó, GDĐH còn nắm giữ vai trò lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống, phát hiện những con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng các mối quan tâm, các thái độ, các giá trị đạo đức cũng như tinh thần đúng đắn.
Thứ hai: Cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong mọi lĩnh vực Các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác được phát triển nhờ những cá nhân được tiếp thu những tri thức mới nhân của nhân loại với đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng. Thứ ba: Đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững Đóng góp quan trọng của GDĐH đó là sự nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt về văn hóa xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục đồng thời nuôi dưỡng và khích lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững, tốt đẹp của cá nhân và xã hội, và từ đó nhân rộng những thái độ và giá trị này ra cả cộng đồng. Những chức năng cụ thể của giáo dục cũng được nhấn mạnh trong báo cáo Ủy ban quốc tế về giáo dục trong thế kỷ 21 của UNESCO, có tiêu đề là “Học tập: Kho báu bên trong” đó là: - Cho sinh viên được nghiên cứu và tha gia các hoạt động giảng dạy. - Các khóa đào tạo kĩ năng và chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Mở rộng cơ hội giáo dục cho tất cả các cá nhân. - Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua việc quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu, công nghệ, tạo mạng lưới liên kết, và tạo điều kiện cho sự luân chuyển tự do của những ý tưởng khoa học cũng như của chính các nhà nghiên cứu (UNESCO, 1966). Vai trò của GDĐH đối với sự phát triển kinh tế Thứ nhất, GDĐH cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển. Trong diễn văn khai mạc lế trao giải Nobel vào ngày 10/12/2008 tại Stockholm, Thụy Điển, Tiến sỹ Marcus Storch, chủ tịch hội đồng quỹ Nobel đã khẳng định: “Nền tảng phát triển của con người là tri thức.
Nhưng đóng góp quan trọng nhất là từ các đại học mà ra”. Có thể nói đại học là con đường ngắn nhất giúp một cá nhân có cơ hội tiếp thu trí tuệ nhân loại. Trong phân công lao động xã hội, cơ sở GDĐH là nơi duy nhất có đủ điều kiện và khả năng đào tạo ra đội ngũ lao động giàu kỹ năng và trình độ như những nhà lãnh đạo, nhà khoa học, nhà chính trị, các chuyên gia, kỹ sư cho đến các cán bộ kỹ thuật hay những người thợ lành nghề.Sinh viên không những được trang bị những kiến thức chuyên sâu của các chuyên ngành mà còn tôi luyện trong họ năng lực sáng tạo ra cái mới và khả năng ứng dụng của tri thức, phát minh khoa học vào thực tiễn. Theo Ngân hàng thế giới (WB) đầu tư vào giáo dục có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với đầu tư vào vốn vật chất.
So với các yếu tố khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên.tri thức khi tham gia quá trình sản xuất không những không bị hao mòn, cạn kiệt mà còn luôn được nâng cao. Thứ hai, GDĐH góp phần vào quá trình chuyển giao và đổi mới khoa học công nghệ nâng cao năng suất lao động, tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế. Trường đại học là nơi tập trung toàn bộ các ngành khoa học, thực hiện chức năng là trung tâm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ mới cũng như công nghệ mũi nhọn. Nói khác đi, nó chính là cái nôi của những phát minh trong lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ thông qua quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc và lâu dài của đội ngũ giảng viên và sinh viên ưu tú.
Điều này có ý nghĩa quyết định trong sự tăng trưởng kinh tế dài hạn, nâng cao năng suất và chất lượng lao động. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Những nghiên cứu mũi nhọn đã và đang đóng góp một phần không thể thiếu trong công cuộc cách mạng phát triển nhân loại. Thứ ba, GDĐH góp phần cải thiện thu nhập, mức sống của người dân, giúp xóa đói giảm nghèo, làm giảm khoảng cách giàu nghèo và thực hiện tốt công bằng xã hội. Thông qua việc trang bị cho người học những kiến thức và kĩ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu xã hội, GDĐH còn góp phần nâng cao mức sống và làm giảm bất công bằng xã hội.
Thực tế cho thấy, những người thừa hưởng giáo giục đại học bậc cao thường có cơ hội kiếm việc làm cao hơn lao động phổ thông. Vai trò của giáo dục đại học đối với sự phát triển bền vững GDĐH thúc đẩy sự phát triển bền vững, phát triển cộng đồng.