Cơ Chế Truyền Dẫn Từ Việc Phá Giá Tiền Đồng Đến Lạm Phát Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích cơ chế truyền dẫn từ giá tiền đồng đến lạm phát tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về kinh tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BẢNG

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ ĐẾN LẠM PHÁT

1.1. Các lý thuyết về tác động truyền dẫn của tỷ giá (ERPT – Exchange rate pass through)

1.2. Cơ chế tác động của tỷ giá đến giá trong nước

1.3. Các bằng chứng thực nghiệm về tác động truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát

1.3.1. Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới

1.3.2. Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.1.1. Nghiên cứu định tính

2.1.2. Nghiên cứu định lượng

2.1.3. Mô hình nghiên cứu

2.2. Các bước thực hiện

2.3. Dữ liệu nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

3.1. Diễn biến Lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2011

3.2. Các nhân tố tác động tới lạm phát Việt Nam

3.2.1. Sự sụt giảm tỷ giá (Depreciation)

3.2.2. Tỷ giá thực (Real Exchange Rate) và độ chênh lệch tỷ giá thực

3.2.3. Độ mở cửa của nền kinh tế (Openness)

3.2.4. Chênh lệch sản lượng (Output gap)

3.2.5. Phương pháp tính

3.2.6. Kỳ vọng lạm phát

3.3. Tranh luận về nguyên nhân lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC PHÁ GIÁ TIỀN ĐỒNG TỚI LẠM PHÁT VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2000 – 2011

4.1. Mô tả số liệu

4.2. Ước lượng các giá trị cân bằng

4.3. Kiểm định nghiệm đơn vị

4.4. Tác động của sụt giảm tỷ giá đến lạm phát

4.5. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cơ Chế Truyền Dẫn Từ Phá Giá Tiền Đồng Đến Lạm Phát

Cơ chế truyền dẫn từ việc phá giá tiền đồng đến lạm phát Việt Nam là một vấn đề quan trọng trong kinh tế học. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa sự sụt giảm tỷ giá và lạm phát, từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn sâu sắc hơn về tác động của tỷ giá đến nền kinh tế.

1.1. Khái Niệm Cơ Chế Truyền Dẫn Từ Tỷ Giá Đến Lạm Phát

Cơ chế truyền dẫn tỷ giá (ERPT) là quá trình mà qua đó sự thay đổi tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa và dịch vụ trong nước. Khi tiền đồng bị phá giá, giá hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng lên, dẫn đến áp lực lạm phát trong nước.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Về Lạm Phát Việt Nam

Lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế nghiêm trọng tại Việt Nam. Việc hiểu rõ cơ chế truyền dẫn từ phá giá tiền đồng đến lạm phát sẽ giúp các nhà quản lý có những biện pháp hiệu quả để kiểm soát lạm phát, bảo vệ sức mua của người dân.

II. Vấn Đề Lạm Phát Tại Việt Nam Và Tác Động Của Phá Giá Tiền Đồng

Lạm phát tại Việt Nam đã có những diễn biến phức tạp trong giai đoạn 2000-2011. Sự phá giá tiền đồng đã tạo ra nhiều thách thức cho nền kinh tế, đặc biệt là trong việc kiểm soát lạm phát.

2.1. Diễn Biến Lạm Phát Việt Nam Giai Đoạn 2000 2011

Trong giai đoạn này, lạm phát đã có những biến động mạnh, với tỷ lệ cao nhất lên đến 22,14% vào năm 2008. Sự phá giá tiền đồng đã góp phần làm gia tăng áp lực lạm phát, ảnh hưởng đến đời sống người dân.

2.2. Các Nhân Tố Tác Động Đến Lạm Phát

Ngoài việc phá giá tiền đồng, còn nhiều yếu tố khác như chênh lệch sản lượng, độ mở cửa của nền kinh tế cũng tác động đến lạm phát. Việc phân tích các yếu tố này là cần thiết để hiểu rõ hơn về cơ chế lạm phát tại Việt Nam.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Cơ Chế Truyền Dẫn Từ Phá Giá Đến Lạm Phát

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp định tính và định lượng để phân tích mối quan hệ giữa phá giá tiền đồng và lạm phát. Các mô hình kinh tế sẽ được áp dụng để ước lượng hệ số truyền dẫn.

3.1. Phương Pháp Định Tính Trong Nghiên Cứu

Phương pháp định tính sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát và cơ chế truyền dẫn từ tỷ giá. Các nghiên cứu trước đây sẽ được tham khảo để xây dựng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này.

3.2. Phương Pháp Định Lượng Và Mô Hình Nghiên Cứu

Mô hình hồi quy sẽ được sử dụng để ước lượng tác động của sự sụt giảm tỷ giá đến lạm phát. Các biến số như tỷ giá thực, độ mở cửa của nền kinh tế sẽ được đưa vào phân tích để đánh giá mức độ ảnh hưởng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Cơ Chế Truyền Dẫn Từ Phá Giá Đến Lạm Phát

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa sự sụt giảm tỷ giá và lạm phát tại Việt Nam. Hệ số truyền dẫn đạt giá trị cực đại trong khoảng thời gian từ t đến t + 12 tháng.

4.1. Hệ Số Truyền Dẫn Từ Phá Giá Đến Lạm Phát

Hệ số truyền dẫn cho thấy rằng sự sụt giảm tỷ giá có tác động tích cực đến lạm phát. Kết quả cho thấy lạm phát có xu hướng tăng cao sau khi tỷ giá bị phá giá.

4.2. Tác Động Của Các Yếu Tố Vĩ Mô Đến Lạm Phát

Các yếu tố như kỳ vọng lạm phát, độ mở cửa của nền kinh tế cũng có tác động đến mức độ truyền dẫn. Nghiên cứu chỉ ra rằng lạm phát ban đầu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lạm phát trong các giai đoạn sau.

V. Kết Luận Về Cơ Chế Truyền Dẫn Từ Phá Giá Đến Lạm Phát Việt Nam

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cơ chế truyền dẫn từ việc phá giá tiền đồng đến lạm phát là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự quan tâm từ các nhà hoạch định chính sách. Việc kiểm soát lạm phát cần phải xem xét nhiều yếu tố khác nhau.

5.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự phá giá tiền đồng có tác động lớn đến lạm phát, và cần có các biện pháp kiểm soát hiệu quả để giảm thiểu tác động này.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Để Kiểm Soát Lạm Phát

Các nhà hoạch định chính sách cần xem xét các biện pháp như điều chỉnh tỷ giá, kiểm soát giá cả và tăng cường các chính sách kinh tế vĩ mô để ổn định lạm phát.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh cơ chế truyền dẫn từ việc giá tiền đồng đến lạm phát việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ ĐÊ2N LẠM PHÁT 1.1 Các lý thuyết về tác động truyền dẫn của tỷ giá (ERPT – Exchange rate pass through) 1.1 Cơ chế tác động của tỷ giá đến giá trong nước Milton Friedman (1953) lập luận rằng, cơ chế tỷ giá thả nổi có thể làm thay đổi nhanh chóng giá tương đối giữa các quốc gia “Tăng tỷ giá. làm giá hàng hóa nước ngoài trở nên rẻ hơn khi tính bằng nội tệ, ngay cả khi giá của chúng tính bằng ngoại tệ không thay đổi, và hàng hóa trong nước trở nên đắt hơn khi tính bằng ngoại tệ, ngay cả khi giá của chúng không thay đổi nếu tính bằng nội tệ. Điều này làm tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu”.1: Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát Giảm tỷ giá (Phá giá đồng nội tệ) áá Trực tiếp Hiệu ứng FDI Tăng giá các nhân tố sản xuất Tăng cầu lao động, tăng tiền và hàng hoá nước ngoài Gián tiếp lương SX thay thế nhập khẩu Tăng cầu nội địa và nước ngoài về hàng hoá sản xuất trong nước Tăng giá hàng hoá tiêu dùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các giả thiết của Friedman là giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ của nhà sản xuất cố định và tồn tại hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá đến người mua hàng hóa ở mức độ lớn (trung chuyển toàn phần sang giá hàng nhập khẩu). Hiệu ứng trực tiếp: Chuỗi hiệu ứng trực tiếp bao gồm thay đổi trực tiếp giá cả các hàng hóa nhập khẩu trung gian và nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng do thay đổi tỷ giá.

Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu để nghiên cứu hiệu ứng này một cách riêng biệt. Obstefeld và Rogoff (2000) và các tác giả khác đã chứng minh rằng, giá cả các hàng hóa nhập khẩu có mức độ nhạy cảm hơn đối với những thay đổi của tỷ giá so với giá cả hàng tiêu dùng nói chung. Hiệu ứng gián tiếp: Chuỗi hiệu ứng gián tiếp dựa trên giả thuyết về sự thay thế lẫn nhau của hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu. Hiệu ứng gián tiếp bao gồm sự thay thế giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng trên thị trường nội địa (sự thay thế bên trong - internal substitution) và trên thị trường nước ngoài (sự thay thế bên ngoài - external substitution).

Chẳng hạn ở nước Nga, sau cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1998, sự thay thế bên trong đã làm giảm tiêu thụ các hàng hóa nhập khẩu chất lượng cao đắt tiền và làm tăng việc tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước chất lượng thấp và rẻ hơn (“flight from quality”, Burtein et al (2003)). Kết quả là giá cả hàng hóa nội địa tăng lên. Một số tác giả (Engel (2002)) gọi hiệu ứng tăng tiêu thụ hàng hóa nội địa thay cho hàng hóa nhập khẩu là “hiệu ứng dịch chuyển chi tiêu do những thay đổi trong giá tương đối (expenditure-switching effect of relative price changes)”. Hiệu ứng thay thế bên ngoài cũng xẩy ra do hàng hóa sản xuất trong nước trở nên rẻ hơn đối với người nước ngoài và cầu của họ đối với hàng hóa sản xuất trong nước tăng lên.

Bởi vì tiền lương danh nghĩa là cố định trong ngắn hạn, điều này làm giảm tiền lương thực tế, do đó, kích thích tăng sản lượng, từ đó, khuyến khích xuất khẩu của quốc gia. Hiệu ứng thay thế bên ngoài đòi hỏi nghiên cứu hành vi theo đuổi chiến lược dịch chuyển chi tiêu (“expenditure-switching strategy”, Obstfeld& Maurice (2001) của các nhà sản xuất trong nước. Các nhà sản xuất thay thế hàng hóa nhập khẩu trung gian bằng hàng hóa sản xuất trong nước. Tuy nhiên, khi tiền lương thực tế tăng lại về mức ban đầu, chi phí sản xuất tăng lên đẩy mức giá lên và làm giảm sản lượng.

Trong dài hạn, hiệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ứng này được minh họa bởi điều kiện Marshall- Lerner. Các dữ liệu cán cân vãng lai trong cán cân thanh toán của nước Nga sau khủng hoảng 1998 khẳng định rằng sản lượng trong nước gia tăng là kết quả của việc phá giá đồng Rúp năm 1998. Hiệu ứng FDI: Năm 2008 nước Nga rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị một cách toàn diện, trong năm này đồng Rúp đã giảm 2/3 giá trị, lạm phát tăng lên mức 2 con số, thị trường chứng khoán mất 80% giá trị…. Sự giảm giá mạnh của đồng Rúp năm 1998 đã làm giảm mạnh cầu đối với nhiều loại hàng hóa nhập khẩu và giảm mạnh tiền lương danh nghĩa tính bằng ngoại tệ.

Trước đó, các tập đoàn xuyên quốc gia đã cung cấp nhiều hàng hóa vào nước Nga, trong thời gian khủng hoảng phải đối mặt với tình thế lưỡng nan: hoặc đánh mất thị phần thị trường xuất khẩu của mình hay bắt đầu xây dựng cơ sở sản xuất tại nước Nga nhằm tận dụng các lợi thế so sánh về tiền lương và công nghệ. Nhiều tập đoàn đã mở chi nhánh và dịch chuyển các cơ sở sản xuất vào nước Nga (FDI flows). Tăng trưởng sản xuất làm tăng cầu lao động và tăng tiền lương. Đến lượt mình, điều này đã đẩy giá tăng lên.

Tóm lại, có một số cơ chế song hành, thông qua đó, giá cả trong nước phản ứng với những thay đổi của tỉ giá danh nghĩa.2 Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) và những nguyên nhân làm cho tỷ giá lệch khỏi PPP Cơ chế truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến giá trong nước là nhân tố then chốt trong việc lan truyền các cơn sốc trong một nền kinh tế mở. Nhưng các mô hình kinh tế vĩ mô truyền thống lại ít quan tâm đến vấn đề này. Chẳng hạn, đa số các mô hình tiền tệ với giá thả nổi ủng hộ học thuyết ngang giá sức mua và do đó, cơ chế truyền dẫn từ tỷ giá (ERPT) sang giá trong nước là toàn phần (độ co giản phải bằng 100%). Nhưng ngay cả trong một mô hình cung cầu giản đơn trong đó quy luật một giá được tuân thủ thì vẫn có những khác biệt về tác động truyền dẫn (ERPT) của tỉ giá đối với giá trong nước.

Trong một nền kinh tế lớn, hiệu ứng lạm phát do sự giảm tỉ giá nội tệ được kết hợp với sự giảm giá toàn cầu (do cầu thế giới giảm), từ đó làm giảm ERPT. Trong một nền kinh tế nhỏ, một sự giảm tỉ giá nội tệ không ảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hưởng đến giá thế giới, do đó, ERPT phải là toàn phần (100%) trong mô hình này. Do đó, ngay cả trong khuôn khổ mô hình đơn giản này (mô hình ủng hộ quy luật một giá), ERPT không đồng nhất ở các quốc gia và sẽ cao hơn ở các nền kinh tế nhỏ so với các nền kinh tế lớn. Có nhiều lí thuyết giải thích tại sao ERPT không đạt mức toàn phần.

Mô hình của Obstfeld & Rogoff (2000) cho rằng sự tồn tại chi phí vận chuyển làm tăng giá trị hàng hóa nhập khẩu và phân đoạn thị trường. Ngay cả khi hàng hóa nhập khẩu là hoàn toàn có thể thay thế hàng hóa sản xuất ở trong nước, thì chúng cũng không thể được tiêu thụ với khối lượng lớn (tỉ lệ nhập khẩu nhỏ), bởi vì giá của chúng tương đối cao. Trong trường hợp này, sự thay đổi tỉ giá tác động yếu đến sự biến động của chỉ số CPI. Một phương pháp tiếp cận tương tự (McCallun & Nelson (1999) cho rằng bản thân hàng hóa chỉ chiếm một tỉ lệ không lớn so với phần cá nhân tiêu thụ.

Người tiêu dùng cũng sẵn sàng thanh toán các dịch vụ marketing, các dịch vụ phân phối và dịch vụ bán lẻ mà thông qua các kênh này, hàng hóa đến tay người tiêu dùng. Có thể, các khoản chi phí này chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá trị của hàng hóa. Khi đó, những thay đổi của tỉ giá sẽ không tác động lớn đến giá trị hàng hóa tiêu dùng cuối cùng, bởi vì chúng chỉ tác động đến một phần không lớn giá trị của hàng hóa. Burstein, Neves & Rebelo (2002) và Burstein, Eichenbaum & Rebelo (2002) cho rằng vai trò của hàng hóa và dịch vụ trung gian nội địa trong khu vực phân phối là khá quan trọng về mặt lượng, nhưng không thể giải thích đầy đủ những khác biệt của ERPT.

Mức ERPT thấp có thể không phải là kết quả của sự cố định tương đối giá cả, mà là chính sách phân biệt hóa về giá tối ưu. Bergin & Feenstra (2001) và Bergin (2001) đã xây dựng các mô hình cân bằng tổng thể, trong đó, ERPT không bằng 100%, ngay cả khi giá cả là hoàn toàn thả nổi. Corsetti & Dedola (2001) xây dựng một mô hình, trong đó, ERPT một phần phát sinh do những khác biệt trong các mức chi phí phân phối trên thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Trong mô hình của họ, ERPT đến giá hàng hóa nhập khẩu không đạt mức toàn phần, bởi vì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nhà xuất khẩu hoạt động trong ngành cạnh tranh độc quyền cho rằng cầu của nhà nhập khẩu phụ thuộc vào chi phí phân phối trong nước.

Thay thế và bổ sung cho phương pháp tiếp cận nêu trên là mô hình Bachetta & Wincoop (2002). Trong mô hình của mình, các tác giả bỏ qua chi phí phân phối và tập trung vào chiến lược định giá tối ưu của công ty. Luận cứ của mô hình là ở chỗ, đồng tiền được chọn để định giá phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh hàng nhập khẩu với hàng hóa sản xuất trong nước. Nếu mức độ cạnh tranh là cao thì các công ty nhập khẩu sẽ định giá bằng nội tệ, do đó, ERPT bằng 0.

Ngay cả khi công ty đối mặt với vấn đề rủi ro tỉ giá, nó cũng không muốn thay đổi giá cả hàng tiêu dùng cuối cùng để bảo vệ thị phần. Như vậy, mức độ cạnh tranh giữa nhà nhập khẩu và nhà sản xuất trong nước càng lớn thì ERPT trong ngành càng nhỏ. Một phương pháp tiếp cận khác cho rằng hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa trung gian và tồn tại sản phẩm thay thế được sản xuất trong nước. Các nhà sản xuất trong nước sử dụng hàng hóa nhập khẩu trung gian để sản xuất hàng hóa tiêu dùng cuối cùng.

Giá cả hàng hóa tiêu dùng cuối cùng có thể được ấn định bằng nội tệ, còn hàng hóa nhập khẩu trung gian có thể được ấn định bằng đồng tiền nhà xuất khẩu. Do đó, nhà nhập khẩu có thể thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hóa sản xuất trong nước nếu như tỉ giá thay đổi theo hướng bất lợi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ